Nguyễn Bính thật tài tình trong việc thể hiện nỗi nhớ bằng những hình ảnh mộc mạc, thân thuộc ấy. ở 4 câu thơ này, người đọc nhận thấy có sự thay đổi trong cách xưng hô, tác giả đã mạnh dạn đổi "tuổi" cho "anh" rất táo bạo. dấu hiệu này cho thấy tình yêu này quá lớn, quá sâu sắc và chàng trai muốn tin tưởng trực tiếp vào cô gái. Nhưng theo lời giới thiệu của Đỗ Đình Thọ trong tập Thơ tình Nguyễn Bính, xuất bản năm 1991 thì Nguyễn Bính đã đến với cách mạng khá sớm - ngay từ 1945 trước ngày khởi nghĩa tháng tám. Trên đây là những bài thơ hay nhất của nhà thơ Nguyễn Bính và đôi nét về Nhân vật trữ tình trong Tương tư của Nguyễn Bính thì khác. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Gió mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Không phải là anh nhớ em hay tôi nhớ nàng mà là "thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông". Hoa Cỏ May. Tác giả: Nguyễn Bính. Hồn anh như hoa cỏ may. Một chiều gió cả bám đầy áo em. Bài thơ là một cặp lục bát với lối so sánh, sáng tạo "Hồn anh như hoa cỏ may", hồn anh, trái tim anh dễ xao động, chỉ cần một cơn gió nhẹ đưa cũng có thể làm cho trái tim ấy Văn Học Trong Nhà Trường: Thơ Nguyễn Bính. Nhà cung cấp: Nhà Xuất Bản Kim Đồng. Tác giả: Nguyễn Bính. Nhà xuất bản: NXB Kim Đồng. Hình thức bìa: Bìa Mềm. (0 đánh giá) 39.000 đ. 42.000 đ -7%. Nguyễn Bính là chiếc lá lìa cành đầu ngõ, là chiếc mo cau rụng vội góc vườn. Nguyễn Bính là sắc nắng chiều man mác trên mỗi thân cau, là ngọn mồng tơi ngập ngừng nơi lưng giậu…". Một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Bính phải kể đến bài thơ " Mưa xuân"- một bức tranh làng quê thấm đượm nỗi lòng cô thôn nữ. v4Fhe11. Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, 1918 – 1966 là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam. Thơ ông phần lớn là thơ tình nhưng mang một sắc thái quê mùa, dân dã riêng biệt. Cùng với Xuân Diệu, ông được mệnh danh là "Vua thơ tình". Nguyễn Bính sinh năm 1918 với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ... Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca. Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng "lãng mạn" và "cách mạng" mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt Nam. Thơ Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một cô gái quê kín đáo, mịn mà, duyên dáng. Thơ Nguyễn Bính mang nét dung dị, đằm thắm, thiết tha,đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca giao. Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách, tâm hồn của người Á Đông. Vậy nên, thơ Nguyễn Trọng Bính sớm chinh phục tâm hồn của nhiều lớp người và đã chiếm lĩnh được cảm tình của đông đảo bạn đọc từ thành thị đến nông thôn. Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 tại Hà Nội. Tác phẩm tiêu biểu các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang 1940, Tâm Hồn Tôi 1940, Hương Cố Nhân 1941, Mây Tần 1942, Người Con Gái Ở Lầu Hoa 1942, Tình Nghĩa Đôi Ta 1960, Tuyển Tập Nguyễn Bính 1984; kịch thơ Bóng Giai Nhân 1942; truyện thơ Truyện Tỳ Bà 1944... Thơ Nguyễn Bính "chân quê" giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo Sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính "Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu ..." Bên dưới đây là danh sách tập thơ và các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính hay nhất được sưu tầm, tất cả có 220 bài thơ do ông sáng tác. » Những bài thơ nổi bật của Nguyễn Bính Tương tư Mưa xuân I Chân quê Lỡ bước sang ngang Những bóng người trên sân ga Ghen » Tất cả các bài thơ, tuyển tập thơ Nguyễn Bính Ái Khanh Hành Anh Về Quê Cũ Áo Anh Bạch Đào Bài Thơ Quê Hương Bài Thơ Vần Rẫy Bảy Chữ Bắt Gặp Mùa Thu Bên Hồ Bóng Bướm Bướm Nói Điêu Cái Quạt Chẳng Biết Yêu Nhau Phải Những Gì Chiếc Nón Chiều Thu Chờ Chú Rể Là Anh Chức Nữ, Ngưu Lang Chuông Ngọ Chuyện Tiếng Sáo Diều Con Tằm Cuối Tháng Ba Dù Rằng… Đêm Mưa Đất Khách Đêm Mưa Nhớ Bạn Đêm Phúc Am Đêm Sao Sáng Đôi Khuyên Bạc Đôi Mắt Đề Thơ Trên Mảnh Quạt Vàng Đồng Tháp Mười Đoá Hoa Hồng Đường Rừng Chiều Gái Xuân Gặp Nhau Gửi Cố Nhân Gửi Người Vợ Miền Nam Hành Phương Nam Hái Mồng Tơi Hết Bướm Vàng Không Ngủ Làng Tôi Lại Đi Lỡ Duyên Lửa Đò Màu Tím Huế Mùa Đông Đan Áo Mùa Xuân Xanh Mắt Nhung Một Chiến Công Một Trời Quan Tái Mưa Mưa Xuân II Nam Kỳ Cũng Gió Cũng Mưa Nàng Đi Lấy Chồng Nàng Tú Uyên Nghĩ Làm Gì Nữa Nhà Ga Nhà Tôi Nhỡ Nhàng Những Người Của Ngày Mai Nhớ II Nhớ Người Trong Nắng Nhớ Oanh Nhiều Nuôi Bướm Oan Nghiệt Oanh Phố Chợ Đường Rừng Quê Tôi Rét Rắc Bướm Lên Hoa Sao Chẳng Về Đây? Tâm Hồn Tôi Tôi Còn Nhớ Lắm Túi Ba Gang Tặng Kiên Giang Tết Của Me Tôi Từ Đó Về Đây Tựu Trường Tỉnh Giấc Chiêm Bao Tháng Ba Thơ Gửi Trần Huyền Trân Thơ Tôi Thơ Xuân Thư Lá Vàng Tiếng Trống Đêm Xuân Trách Mình Trải Bao Nhiêu Núi Sông Rồi Trở Lại Hà Đông Vài Nét Huế Vài Nét Rừng Vũng Nước Vì Ai Vì Em Vô Đề Vịnh Cụ Tiên Điền Vu Quy Vườn Xuân Xuân Mới Gửi Bạn Cũ Xuân Nhớ Xuân Thương Nhớ Xuân Vẫn Tha Hương Xuân Về Nhớ Cố Hương Trở Về Quê Cũ Trời Trở Gió Trưa Hè II Trường Huyện Tuyệt Tác Lỡ Bước Sang Ngang 1940 Bước Đi Bước Nữa Chờ Mong Chuyến Tàu Đêm Cô Hái Mơ Cô Lái Đò Dòng Dư Lệ Đàn Tôi Đôi Nhạn Em Với Anh Ghen Giọt Nến Hồng Giối Giăng Hà Nội 36 Phố Phường Hôn Nhau Lần Cuối Khăn Hồng Không Đề Lá Thư Về Bắc Lòng Mẹ Lòng Nào Dám Tưởng Lỡ Bước Sang Ngang Mưa Xuân I Ngược Xuôi Nhặt Nắng Quán Lạnh Rượu Xuân Thoi Tơ Thôi Nàng Ở Lại… Thời Trước Thư Cho Chị Tơ Trắng Tương Tư Vẩn Vơ Vâng Viếng Hồn Trinh Nữ Tâm Hồn Tôi 1940 Bên Sông Cây Bàng Cuối Thu Chân Quê Chờ Nhau Chùa Vắng Đêm Cuối Cùng Giấc Mơ Anh Lái Đò Hai Buổi Chiều I Hai Buổi Chiều II Hoa Cỏ May Nàng Thành Thiếu Phụ Người Hàng Xóm Nhớ I Những Bóng Người Trên Sân Ga Qua Nhà Quan Trạng Thi Vị Thư Gửi Thầy Mẹ Tình Tôi Xuân Về Hương Cố Nhân 1941 Hương Cố Nhân Nhạc Xuân Một Nghìn Cửa Sổ Và Tập Thơ Bướm 1941 Một Nghìn Cửa Sổ Xây Lại Cuộc Đời Người Con Gái Lầu Hoa 1941 Áo Đẹp Bến Mơ Cầu Nguyện Chùa Hương Xa Lắm Diệu Vợi Dối Lòng Giả Cách Khép Cánh Sương Không Hẹn Ngày Về Lạy Trời Cấm Cửa Rừng Mai Lòng Kỹ Nữ Lòng Yêu Đương Mai Tàn Một Đêm Ly Biệt Một Lần Một Mình Mơ Tiên Nàng Tú Uyên Người Cách Sông Rồi… Tôi Cách Sông Người Con Gái Ở Lầu Hoa Quán Trọ Thanh Đạm Trong Vườn Cúc Trưa Hè I Mây Tần 1942 Cảm Tác Chiều Giữa Đường Làm Dâu Nhà Cô Thôn Nữ Tạ Từ Tạnh Mưa Tết Biên Thuỳ Xây Hồ Bán Nguyệt Mười Hai Bến Nước 1942 Gió Mưa Giời Mưa Ở Huế Hoa Với Rượu Một Chiều Say Một Con Sông Lạnh Mười Hai Bến Nước Nữ Sinh Thu Rơi Từng Cánh Chuyện Cổ Tích Xóm Ngự Viên Xuân Tha Hương Tỳ Bà Truyện 1942 Thái Sinh Gặp Ngũ Nương Thái Sinh Cưới Ngũ Nương Ngũ Nương Khuyên Chồng Đi Thi Thái Sinh Lên Kinh Ứng Thí, Ngũ Nương Ở Nhà Thái Sinh Đỗ Trạng Nguyên Và Cưới Con Gái Thái Sư Ngũ Nương Chờ Đợi Và Phụng Dưỡng Cha Mẹ Chồng Cha Mẹ Chồng Lần Lượt Qua Đời, Ngũ Nương Quyết Định Tìm Chồng Nỗi Gian Truân Trên Đường Lên Trường An Tìm Chồng Ngũ Nương Gặp Thái Sinh Rồi Bỏ Đi Các bạn vừa xem danh sách thơ Nguyễn Bính - Nguyễn Trọng Bính có 220 bài thơ. Trang thơ lưu trữ và chia sẽ những tập thơ và tác phẩm thơ ca của Nguyễn Bính. Liên hệ bổ sung thơ nếu danh sách còn thiếu sót cho các bạn nhé, chúc các bạn xem thơ vui vẻ. Ái Khanh Hành Nguyễn Bính trích … Không phải gặp em từ buổi ấy Hình như gặp em từ ngàn xưa Lòng em thương anh không có bến Tình anh yêu em không có bờ Viết viết có đến nghìn trang giấy Làm ra có đến nghìn bài thơ Tương tư một đêm năm canh chẵn Nhớ nhung một ngày mười hai giờ. Chao ơi! Em ngon như rau cải Em ngọt như rau ngót. Em giòn như cùi dừa. Em hiền như ... Anh Về Quê Cũ Nguyễn Bính Anh về quê cũ thôn Vân Sau khi đã biết phong trần ra sao. Từ nay lại tắm ao đào Rượu dâu nhà cất, thuốc lào nhà phơi. Giang hồ sót lại mình tôi Quê người đắng khói, quê người cay men. Nam Kỳ rồi lại Cao Miên Tắm trong một cái biển tiền người ta… Biển tiền, ôi biển bao la Mình không bẩn được vẫn là tay không… Thôn Vân có biếc, có ... Áo Anh Nguyễn Bính Tằm em ăn rỗi hôm nay Hái dâu, em bận suốt ngày hôm qua. Mong sao tằm tốt, tơ già, May đôi áo nái làm quà cho anh. Hẹn cho một hẹn, anh chờ Em may áo nái bao giờ mới xong? Lạy trời tắt gió ngang sông Qua đò biếu áo, yên lòng em tôi. Đưa anh đến bến đò ngang Con sào đẩy sóng, thuyền nan lìa bờ. Anh đi sương gió vật vờ Em về chọn kén, chuốt tơ, ... Bạch Đào Nguyễn Bính Tình cờ không hẹn bỗng mà nên Một buổi đầu năm tết Kỷ Hợi Có năm người bạn bến sông Hoàng Gặp nhau uống rượu mừng năm mới Chuyện thơ chuyện phú, chuyện non sông Chuyện trước chuyện sau thật sôi nổi Bỗng nhiên Hiếu Lang vỗ đùi khoe Đệ có cây đào hoa mới bói Giống đào thật quý nhất xưa nay Cánh trắng, bông to, sương tuyết gội… Chợt nghe hoa quý ... Bài Thơ Quê Hương Nguyễn Bính Trải nghìn dặm trời mây bạn tới. Thăm quê tôi, tôi rất đỗi vui mừng! Bạn nán lại cùng tôi thêm buổi nữa. Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương. …Quê hương tôi có cây bầu cây nhị Tiếng “đàn kêu tích tịch tình tang…” Có cô Tấm náu mình trong quả thị, Có người em may túi đúng ba gang. Quê hương tôi có ca dao tục ngữ, Ông trăng tròn thường ... Bài Thơ Vần Rẫy Nguyễn Bính Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy Đường mòn, bóng nhạt soi tà tà Biển khơi, gió mặn thổi hây hẩy Giậu thưa, rau muống loe màu xanh Bờ vắng, chim cu ồn tiếng gáy Thân cau thương nhớ ai gầy mòn Tay chuối đợi chờ ai ve vẩy… Hoa tươi gặp gió tha hồ rung Trái chín gần tay tự do hái Đời người đã thong thả thế ... Bảy Chữ Nguyễn Bính Mây trắng đang xây mộng viễn hành, Chiều nay tôi lại ngắm trời xanh, Trời xanh là một tờ thư rộng, Tôi thảo lên trời mấy nét nhanh. Viết trọn năm dài trên vách đá, Bốn bề lá đổ ngợp hơi thu, Vừa may cánh nhạn về phương ấy, Tôi gửi cho nàng bức ngọc thư. Xe ngựa chiều nay ngập thị thành, Chiều nay nàng bắt được trời xanh, Đọc xong bảy chữ thì ... Bắt Gặp Mùa Thu Nguyễn Bính Xơ xác hồ sen đã nhạt hương Bên song hoa lựu cũng phai hường Sớm mai lá úa rơi từng trận Bắt gặp mùa thu khắp nẻo đường Tóc liễu hong dài nỗi nhớ nhung Trăng nghiêng nửa mái gội mơ mòng Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng Thu về sông núi bỗng tiêu sơ Cây rũ vườn xiêu, cỏ áy bờ Xử nữ đôi cô buồn tựa cửa Nghe ... Bên Hồ Nguyễn Bính Lá rơi theo gió lá bay Bên hồ, ta đứng đắm say nhìn hồ. Sương mai đây có trắng mờ Như còn lưu luyến đôi bờ cây xanh. Xa trên mặt nước mông mênh Buông thuyền, cô gái nghiêng mình hái sen. Bài thơ Bên Hồ trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Nguyễn Trọng Bính. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Trọng Bính một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. ... Bóng Bướm Nguyễn Bính Cành dâu cao, lá dâu cao Lênh đênh bóng bướm trôi vào mắt em. Anh đi đèn sách mười niên Biết rằng bóng bướm có lên kinh thành. Cành dâu xanh, lá dâu xanh Một mình em hái, một mình em thương. Mới rồi mãn khoá thi hương Ngựa điều, võng tía qua đường những ai? Bài thơ Bóng Bướm trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Nguyễn Trọng Bính. Thuộc danh ... Bướm Nói Điêu Nguyễn Bính Em thấy đời em trống trải nhiều Vì đời em chả có ai yêu Đời em là một vườn hoa nở Bướm hẹn về, rồi bướm nói điêu… Bài thơ Bướm Nói Điêu trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Nguyễn Trọng Bính. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Trọng Bính một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu. Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều tác phẩm thơ ca khác, có ... Cái Quạt Nguyễn Bính Cái quạt mười tám cái nan Anh phất vào đấy muôn vàn nhớ nhung Gió sông, gió núi, gió rừng Anh niệm thần chú thì ngừng lại đây. Gió Nam Bắc, gió Đông Tây Hãy hầu công chúa thâu ngày, thâu đêm Em ơi công chúa là em Anh là quan trạng đi xem hoa về Trên giời có vẩy tê tê Đôi bên ước thề duyên hãy tròn duyên Quạt này trạng để làm tin Đêm nay khép ... lượt xem 375 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ nổi tiếng những thập niên 30 - 60 của thế kỷ trước trong văn học hiện đại Việt Nam. Ông có một phong cách thơ được nhiều thế hệ đương thời mến mộ, đặc biệt có nhiều bài tuy sáng tác trong phong trào Thơ Mới nhưng đậm chất trữ tình dân gian cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Di sản thơ Nguyễn Bính nói chung, thơ tình Nguyễn Bính nói riêng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu về mặt nội dung và nghệ thuật.... Chủ đề giáo trìnhgiáo ángiáo án đại họcgiáo án cao đẳnggiáo trình đại họcgiáo trình cao đẳng Nội dung Text NGÔN NGỮ THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ HIỀN N GÔN NG Ữ T H Ơ T ÌNH N GUY Ễ N BÍNH CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Mà SỐ TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN VINH - 2008 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ nổi tiếng những thập niên 30 - 60 của thế kỷ trước trong văn học hiện đại Việt Nam. Ông có một phong cách thơ được nhiều thế hệ đương thời mến mộ, đặc biệt có nhiều bài tuy sáng tác trong phong trào Thơ Mới nhưng đậm chất trữ tình dân gian cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Di sản thơ Nguyễn Bính nói chung, thơ tình Nguyễn Bính nói riêng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu về mặt nội dung và nghệ thuật. Tuy vậy, cho đến nay phương diện ngôn ngữ trong thơ tình của ông vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Ngôn ngữ có vai trò “là phương tiện thứ nhất của văn học”, nên chắc chắn việc khảo sát kỹ lưỡng hệ thống ngôn ngữ trong thơ tình Nguyễn Bính sẽ góp phần xác định những điểm độc đáo, đặc sắc về hình thức biểu hiện, nhất là về cấu trúc, âm điệu, các lớp từ giàu giá trị biểu nghĩa và các biện pháp tu từ nổi bật. Đề tài luận văn “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” chúng tôi đi theo hướng tiếp cận thơ Nguyễn Bính dựa trên quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức cũng như quan hệ giữa cá tính của nhà thơ và thi phẩm của ông. Mặt khác, kết quả khảo sát “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” có thể góp phần lý giải tại sao mảng thơ này lại có sức cuốn hút nhiều thế hệ người Việt đến vậy. Là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung, nên khá nhiều bài thơ của Nguyễn Bính được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Trong chương trình đào tạo cử nhân Ngữ văn ở các trường đại học và cao đẳng, Nguyễn Bính luôn có vị trí một tác giả lớn. Tuy vậy, phương diện ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính nói chung, ngôn ngữ trong những bài thơ của Nguyễn Bính được giảng dạy ở nhà trường nói riêng chưa được đề cập, phân tích. Đề tài luận văn “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” chúng tôi lựa chọn và thực hiện với mong muốn tiếp cận mảng thơ tình của Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, qua đó góp phần nhỏ vào việc dạy học tác giả và tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trường hiện nay. 2. Lịch sử vấn đề Nhìn chung qua các thời kỳ khác nhau, thơ Nguyễn Bính có những thăng trầm, nhưng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính ít có những khác biệt hoặc những mâu thuẫn gay gắt. Về căn bản, những nhận xét đánh giá của giới phê bình về 2 Nguyễn Bính khá thống nhất. Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Bính vẫn được xem là nhà thơ của “Chân quê”, “Hồn quê”, “Tình quê”. Trong thời gian dài, thơ Nguyễn Bính đã được nghiên cứu xem xét ở nhiều góc độ từ nội dung đến nghệ thuật, từ tư tưởng đến phong cách, từ giọng điệu đến kết cấu. Chưa có một tác giả nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính một cách tập trung có hệ thống. * Lịch sử nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính Có thể thấy các nhận định đánh giá của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính đều gặp nhau ở điểm ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính vừa truyền thống vừa hiện đại nhưng nghiêng về truyền thống, gần gũi với ca dao hơn là sự cách tân, đây cũng là chỗ đặc sắc hơn người của Nguyễn Bính 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của đề tài Qua khảo sát bộ phận thơ tình Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, đề tài có mục đích góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, một phong cách thơ có sự nối kết hiệu quả giữa truyền thống và cách tân trong nền thơ Việt Nam giữa thế kỉ XX. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu a. Nhiệm vụ Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau - Khảo sát và miêu tả về cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính. - Khảo sát và miêu tả các lớp từ và các biện pháp tu từ nổi bật trong thơ tình Nguyễn Bính. b. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung khảo sát 106 bài thơ tình được sáng tác trước cách mạng tháng tám năm 1945 có trong tập thơ Thơ tình Nguyễn Bính Nxb Đồng Nai, 1996 và Tuyển tập Nguyễn Bính Nxb văn học, Hà Nội 1986. 4. Phương pháp nghiên cứu 3 Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây - Phương pháp thống kê - phân loại Được dùng khi khảo sát nguồn tư liệu theo từng vấn đề cụ thể. - Phương pháp phân tích - tổng hợp Nhằm làm sáng tỏ từng luận điểm, từ đó khái quát thành các luận điểm cơ bản. - Phương pháp so sánh - đối chiếu Được dùng khi so sánh đối chiếu với nhà thơ cùng thời về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phong cách ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính. 5. Cái mới của đề tài Chúng tôi hy vọng đây là một trong những luận văn đầu tiên cố gắng đi vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách toàn diện về phương tiện nội dung và hình thức góp phần vào việc giảng dạy thơ Nguyễn Bính trong nhà trường một cách tốt hơn. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm ba chương Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài. Chương 2 Cấu trúc và âm điệu thơ tình Nguyễn Bính. Chương 3 Ngữ nghĩa ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính. 4 Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Thơ và ngôn ngữ thơ Sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi Thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác nhau thuần tuý bề ngoài trước hết là ở cơ cấu nhịp điệu. Trong khi văn xuôi thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống thì thơ lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩa cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh. Tác phẩm văn xuôi thường có cốt truyện và hành động. Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ. Thơ thường không có cốt truyện, mỗi bài thơ thể hiện một tâm trạng nên dung lượng của nó thường ngắn vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài. Trong thơ, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình. Còn ở văn xuôi thì nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí là nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nó đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người trần thuật. Thơ là tiếng nói bộc bạch làm việc trên trục dọc trục lựa chọn, thay thế, tương đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ còn văn xuôi là tiếng nói đối thoại làm việc trên trục ngang trục kết hợp, trục tuyến tính. Không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi. Trong văn xuôi, ngôn từ mang tính miêu tả tạo hình, nó ít tập trung vào chính nó, trong khi đó thơ thì không thể tách rời ngôn từ. Có những hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi thơ văn xuôi, văn xuôi nhịp điệu. Đôi khi thơ và văn xuôi xuyên thấm lẫn nhau ví dụ văn xuôi trữ tình hoặc chứa đựng trong nhau những mảng văn bản “dị loại” tác phẩm thơ có những mảng văn xuôi hoặc tác phẩm văn xuôi có những đoạn thơ xen kẽ của các nhân vật hoặc của tác giả. Các đặc trưng của ngôn ngữ thơ 5 Để thấy rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ, chúng tôi phân biệt thơ với văn xuôi trên ba cấp độ ngữ âm, từ vững, ngữ pháp. a. Về ngữ âm Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc. b. Về ngữ nghĩa Ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa biểu vật mà từ nghĩa ban đầu đó còn có những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạng hơn, mới lạ hơn. Đó là nghĩa bóng hay ý nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ thơ ca. c. Về ngữ pháp Cấu trúc câu trong ngôn ngữ thơ thường không tuân theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng. Nhà thơ có thể sử dụng các kiểu câu khác nhau như câu đảo ngữ, câu vắt dòng, câu trùng điệp mà không làm ảnh hưởng đến việc tiếp nhận văn bản của người đọc. Ngược lại những kết hợp tổ chức ngôn ngữ “bất quy tắc” lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca. Các lớp từ giàu mầu sắc biểu cảm trong thơ ca Việt Nam Lớp từ láy Từ láy là “những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho giá trị giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối hài hoà với nhau về âm và về nghĩa có giá trị tương đương hoá”. Lớp từ tình thái Tình thái là “những từ biểu thị sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói”. Các biện pháp tu từ thường dùng trong thơ ca Ẩn dụ Ẩn dụ là “phương thức tu từ trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái kia mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi một cách kín đáo”. So sánh tỉ dụ So sánh là “phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tượng kia”. 6 Đối đối ngẫu Đối là “một phương thức tổ chức lời văn bằng cách điệp ngữ pháp nhằm tạo ra hai vế, mỗi vế là một câu tương đối hoàn chỉnh được viết thành hai dòng cân xứng, sóng đôi với nhau”. Điệp ngữ Điệp ngữ là “một hình thức tu từ có đặc điểm một từ, cụm từ, câu hoặc đoạn thơ văn được lặp lại với dụng ý nhấn mạnh hoặc gây ấn tượng cho người đọc, người nghe”. Nguyễn Bính - cuộc đời và thơ Cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính. Nhà thơ sinh vào cuối xuân đầu hạ năm Mậu Ngọ 1918 trong một gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Thuở bé Nguyễn Bính không được đi học ở trường mà mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy. Năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác văn học. Ông được giải khuyến khích của tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi 1940. Năm 1943 Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tỳ bà. Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giữ những trách nhiệm trọng yếu. Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công. Tháng 11-1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam. Năm 1956, ông làm chủ bút tuần báo “Trăm hoa” Năm 1958 Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn hoá thông tin Nam Định. Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hoá Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân. 7 Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ 20-1-1966 lúc đến thăm một người bạn ỏ xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp sang tuổi 49. Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thế loại khác nhau Thơ, truyện thơ, kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác. Hoạt động văn nghệ của ông phong phú đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất được độc giả ưa chuộng là thơ bởi thơ là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông. Riêng về thơ có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ Mới. Chỉ trong một thời gian ngắn 1940-1945 Nguyễn Bính đã cho ra đời những tập thơ có giá trị Tâm hồn tôi 1940; Lỡ bước sang ngang 1940; Hương cố nhân 1941; Một nghìn cửa sổ 1941; người con gái ở lầu hoa 1942; Mười hai bến nước 1942; Mây tần 1942; Bóng giai nhân Kịch thơ - 1942; Truyện tỳ bà truyện thơ - 1944. Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ Ông lão mài gươm 1947; Đồng tháp mười 1955; Trả ta về 1955; Gửi người vợ miền Nam 1955; Trông bóng cờ bay 1957; Tiếng trống đêm xuân 1958; Tình nghĩa đôi ta 1960; Đêm sao sáng 1962. Với lối viết giầu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Năm 2000 Nguyễn Bính đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Thơ tình trong thơ Nguyễn Bính Trong phong trào Thơ Mới 1932 - 1945, Nguyễn Bính là nhà thơ tình có phong cách riêng. Ông tự xem mình là “Thi sĩ của thương yêu”. Đương thời, dư luận báo chí nhận xét đọc “Hương cố nhân ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính là người đa cảm, mảnh hồn trong trẻo của tuổi thanh niên đã sớm theo luồng gió ái ân mà nên câu tuyệt diệu”. Con tằm đã luỵ ba sinh Mà em đã luỵ của anh muôn đời. Chức nữ Ngưu lang Trong thơ tình Nguyễn Bính có một tâm hồn luôn khao khát yêu đương, nhớ nhung, chia sẻ. 8 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính không bình yên ổn định mà luôn ở trạng thái bất an. Và chính cái bất an ấy làm cho câu thơ sao xuyến không ngừng rất thích hợp với tâm trạng người đang yêu. Lạ quá ! làm sao tôi cứ buồn? Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn? Làm sao tôi cứ tương tư mãi Người đã cùng tôi phụ rất tròn? Vâng Thơ tình Nguyễn Bính là tiếng lòng buồn bã, lỡ làng của một trái tim đang thổn thức yêu đương và đến với người đọc như một cô gái quê duyên dáng kín đáo. Thơ tình Nguyễn Bính không đắm đuối ca ngợi tình yêu hưởng lạc như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng. Nguyễn Bính có ý thức không để cho tình yêu làm tha hoá biến chất, không để những ham muốn trong tình yêu lứa đôi cuốn con người vào vòng truỵ lạc. Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ Đành phụ nhau thôi kẻo đến ngày Thơ tình Nguyễn Bính luôn khao khát một mái ấm gia đình đơn sơ giản dị. Nhà gianh thì sẵn đấy Vợ xấu có làm sao Quốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao Thanh đạm Nguyễn Bính luôn nghĩ tới mối tình thuỷ chung, đến những người con gái biết chung tình với mối tình không dứt, với cuộc sống đoàn viên. Như truyện Tương Như và Trác Thị Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng Vườn xuân trắng xoá hoa cam rụng Tôi với em Nhi kết vợ chồng Hoa với rượu 9 Thơ tình Nguyễn Bính toát lên tình yêu thương mãnh liệt “Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng. Với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn Bính tả chân thực được nỗi u buồn, trầm lặng, giải toả được những tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc”. Chính điều đó đã làm cho hồn thơ Nguyễn Bính đi vào tâm hồn người đọc một cách nhẹ nhàng. 10 Chương 2 CẤU TRÚC VÀ ÂM ĐIỆU THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH Hình thức nghệ thuật trong tác phẩm văn học bao gồm các phương tiện biểu hiện nghệ thuật kết hợp hài hoà với hình tượng nghệ thuật nhằm hướng đến phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm, đồng thời nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn. Là một nhà Thơ Mới, Nguyễn Bính vừa kế thừa nhiều hình thức của thơ ca dân tộc nhưng lại là một nhà cách tân, sáng tạo trên cấu trúc và mô hình truyền thống có sẵn. Đi vào tìm hiểu cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính cũng chính là tìm hiểu những cách tân về hình thức nghệ thuật trong thơ tình Nguyễn Bính. Các thể thơ tiêu biểu trong thơ tình Nguyễn Bính Kết quả thống kê phân loại về thể thơ Bảng 1 Phân loại các thể thơ trong thơ tình Nguyễn Bính THỂ THƠ SỐ LƯỢNG BÀI TỈ LỆ % Thơ lục bát 50 47,16 Thơ bảy chữ 48 45,28 Thơ năm chữ 5 4,71 Thơ đường luật 3 2,83 Tổng 106/106 Qua khảo sát 106 bài thơ tình của Nguyễn Bính trước cách mạng, một điều chúng tôi dễ nhận thấy là thơ ông không có sự xuất hiện thơ tự do, thơ văn xuôi như các nhà Thơ Mới khác. Nhà thơ sử dụng chủ yếu và tiêu biểu nhất vẫn là thể thơ lục bát với số lượng nhiều nhất 50 bài 47,16%, tiếp đến là thể thơ 7 chữ 48 bài 45,28%. Ngoài ra để góp phần làm tăng sự phong phú cho thể loại thơ tình, Nguyễn Bính còn sáng tác một số bài thơ 5 chữ và thơ Đường luật trong đó thơ Đường luật chiếm số lượng ít nhất 3 bài 2,83% trong tổng số 106 bài thơ tình Nguyễn Bính Thể thơ lục bát Thơ tình lục bát của Nguyễn Bính là những bài thơ tình hoàn chỉnh, mỗi bài là một câu chuyện về một cuộc đời, một thân phận, có cảnh ngộ và tâm trạng riêng như 11 trong các bài Lỡ bước sang ngang, Lòng mẹ, Người hàng xóm...Bởi vậy mà dung lượng bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính phần lớn là những bài thơ dài. Qua khảo sát 50 bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính chúng tôi thấy có 22 bài thơ lục bát dưới 10 dòng trong số đó có một bài ngắn nhất là 2 dòng Hoa cỏ may và 28 bài thơ lục bát dài trên 10 dòng trở lên. Trong thơ Nguyễn Bính, âm hưởng của thơ ca dân gian còn vang vọng ở thể thơ lục bát thể loại điển hình nhất của ca dao dân ca. Nguyễn Bính đã biết cách làm giàu cho sáng tác của mình trên mảnh đất văn hoá dân gian, từ đó khai thác và khơi nguồn cảm hứng để tạo nên những thi phẩm mới Nguyễn Bính hay vận dụng cách ngắt nhịp đều đặn, hài hoà như ca dao truyền thống. Đó là nhịp 2/2/2;3/3 câu lục và 2/2/2/2; 4/4 câu bát thường thấy của ca dao. Ngôn ngữ thơ lục bát của Nguyễn Bính gần gũi với ngôn ngữ thơ ca dân gian còn bởi nó giàu hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu. Nhà thơ đã chọn cho mình cách biểu hiện thế giới tình cảm trừu tượng thông qua những sự vật hiện tượng cụ thể xung quanh, những cảnh quan bình dị nơi thôn dã gần gũi thân quen, đó là thế giới của giàn đỗ ván, ao rau cần, dậu mồng tơi, hoa chanh hoa bưởi, gió cả, giời cao Một điều đáng chú ý là những từ có vùng mờ nghĩa hết sức đặc sắc của thơ ca dân gian đã hoà hợp vào thơ Nguyễn Bính một cách rất tự nhiên. Những đại từ phiếm chỉ người’’, ai’’, ta’’, mình’’ hoặc những cụm từ phím chỉ người ấy’’, bên ấy’’, bên này’’rất tế nhị, Nguyễn Bính còn làm tăng sắc thái biểu hiện của ngôn ngữ thơ bằng việc sử dụng thành thạo các biện pháp tu từ mà ca dao hay dùng. Những hình ảnh ẩn dụ, so sánh thường xuyên đi về trong thơ Nguyễn Bính. Nói tình yêu đôi lứa, tác giả thường dùng hình ảnh hoa -bướm, trầu -cau,bến-đò, nói về thân phận người con gái đi lấy chồng mà không có hạnh phúc, tác giả gọi là lỡ bước sang ngang, mười hai bến nước, nói tới thân phận tha hương nhà thơ viết thân nhạn, số long đong. Nguyễn Bính sử dụng rất thuần thục lối đan chữ thường thấy trong thơ ca dân gian kiểu chín nhớ mười mong, bảy nổi ba chìm, .... Về mặt cấu tứ bài thơ, khảo sát thơ tình Nguyễn Bính nói chung và thơ tình lục bát Nguyễn Bính nói riêng trước cách mạng, ta có thể nhận thấy trong thơ ông cũng 12 có các cách cấu tứ bài thơ theo thể phú, thể tỷ và thể hứng. Đây là ba thể chính trong kết cấu bài ca dao. Lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính vừa có những đặc điểm gần gũi về nghệ thuật thể hiện như trong thơ ca dân gian mà chúng tôi đã trình bày ở trên nhưng lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính có những sáng tạo mới mẻ về hình ảnh, nhịp điệu trong cách thức và ý nghĩa sử dụng so với ca dao. Thơ lục bát của Nguyễn Bính là sự trở về với những hình ảnh gần gũi quen thuộc trog ca dao, với những bờ tre, gốc lúa, mảnh vườn, con đò, bến nước, nương dâu. Nhưng điều đáng chú ý là Nguyễn Bính sử dụng hình ảnh chất liệu dân dã của ca dao nhưng ông đã thổi vào đó cái hồn của Thơ Mới. Hình ảnh dòng sông, con thuyền đi vào thơ Nguyễn Bính cũng có sự khác biệt so với ca dao. Cánh buồm hư ảo xuất hiện trong thơ ông như một sự mở rộng đến cao độ. Một cánh buồm mở rộng cả không gian, thời gian và chất chứa tâm trạng của sự chia xa. Anh đi đấy, anh về đâu ? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm.. Cánh buồm nâu Cũng là hình ảnh ngọn mồng tơi quen thuộc nhưng nếu trong ca dao, ngọn mồng tơi cũng như giải yếm, cành hồng là những nhịp cầu thể hiện khát vọng gắn kết đôi lứa lại với nhau. Ở gần sao chẳng sang chơi Để anh cắt ngọn mùng tơi bắc cầu Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang Ca dao Trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh trên lại trở thành biểu tượng cho sự ngăn cách về tâm hồn, là khoảng cách tâm lí mà con người không dễ gì vượt qua được. Chàng trai và cô gái trong thơ lục bát Nguyễn Bính chỉ cách nhau bởi giậu mồng tơi mà đành thu hẹp mình trong nỗi buồn, nỗi cô đơn ngập tràn. Giá đừng có giậu mồng tơi 13 Thể nào tôi cũng sang chơi thăm nàng Người hàng xóm Cuối cùng chàng trai chỉ còn biết gửi hồn vào con bướm trắng, con bướm của mộng tưởng vẫn đi về giữa đôi bên để làm vơi bớt nỗi cô đơn của chàng trai. Tìm hiểu thơ tình Nguyễn Bính trước năm 1945, ta thấy thơ lục bát của ông có những dấu ấn riêng. Lục bát của Nguyễn Bính nhiều khi phá vỡ tính cân xứng hài hoà của lục bát cổ, đặc biệt là về nhịp điệu. Lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính vừa ngắt nhịp theo kiểu truyền thống vừa có những kiểu ngắt nhịp phá cách linh hoạt diễn tả tình cảm tâm hồn của nhân vật trữ tình và cái tôi trữ tình. Lục bát của Nguyễn Bính mang bản sắc,diện mạo trong thơ tình Nguyễn Bính nói riêng và thơ Nguyễn Bính nói chung trong phong trào thơ mới 1932- 1945.Lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính thể hiên tâm trạng cái tôi Thơ Mới, mang đủ mọi cung bậc, cảm xúc buồn vui, ngậm ngùi, cay đắng vừa như kể chuyện lại vừa như trữ tình. Thể thơ bảy chữ Sau sự thành công của thể lục bát, thể thơ bảy chữ cũng được Nguyễn Bính thể hiện khá thành công trong đề tài viết về mùa xuân. Thơ bảy chữ của Nguyễn Bính có số lượng 48 bài 45% trong tổng số 106 bài thơ tình Nguyễn Bính. Cùng với Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Thế Lữ đều viết về mùa xuân và đã có nhiều bài thơ hay được khơi nguồn từ cảm hứng xuân. Song trong mạch cảm hứng về thơ xuân ấy, thơ xuân Nguyễn Bính vẫn có một vẻ riêng. Thể thơ 5 chữ Thơ 5 chữ là thể thơ truyền thống xuất hiện trong sáng tác dân gian qua thể loại vè và đồng dao. Số lượng bài thơ 5 chữ tuy ít hơn rất nhiều so với lục bát và thơ 7 chữ của Nguyễn Bính. Thơ 5 chữ của Nguyễn Bính có 5/106 bài 4,7%. Những bài thơ này tuy câu chữ có vẻ hạn hẹp nhưng không vì thế mà nội dung tình cảm lại khô khan, nghèo nàn. Ngược lại trong khuôn khổ hình thức ấy Nguyễn Bính đã biết lựa chọn và 14 tổ chức ngôn ngữ để tạo nên cho thơ 5 chữ của mình một thế giới cảnh vật đầy ắp màu sắc hình khối đặc biệt là thế giới tình cảm phong phú, tinh tế của lòng người. Thơ tình 5 chữ của Nguyễn Bính là những bài thơ tình tác giả viết về tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng, mỗi khổ gồm 4 câu, bài dài nhất là 7 khổ. Cách ngắt nhịp và gieo vần cũng khác với thể hát giặm. Nếu thể hát giặm chỉ ngắt 1 nhịp 3/2 cố định như khổ thơ trên thì thơ 5 chữ của Nguyễn Bính nhịp thơ được ngắt linh hoạt theo dòng tâm trạng và cảm xúc và tâm trạng nhân vật trữ tình, nhịp xen kẽ 2/3 và 3/2 trong một khổ thơ, tác giả gieo vần chân gián cách ở cuối câu thơ. Thể thơ 5 chữ trong thơ tình Nguyễn Bính dù rất ít nhưng đã góp phần làm giàu thêm trong sự đa dạng, đa giọng của thể loại thơ tình Nguyễn Bính. Tổ chức của các bài thơ tình Nguyễn Bính Khái niệm tiêu đề trong văn bản thơ Tiêu đề là tên gọi cuả một văn bản thơ, thường ở đầu văn bản, được trình bày bằng những con chữ riêng cho phép phân biệt nó với toàn bộ phần còn lại của văn bản. Tiêu đề các bài thơ tình của Nguyễn Bính Bảng 2 Độ dài tiêu đề các bài thơ tình của Nguyễn Bính ĐỘ DÀI TIÊU ĐỀ SỐ BÀI TỈ LỆ % VÍ DỤ 1 âm tiết 5 4,7% Nhớ, ghen… 2 âm tiết 43 40,5% Chờ nhau, Chân quê… 3 âm tiết 30 28,3% Người hàng xóm, Mùa xuân xanh… 4 âm tiết 20 18,8% Một trời quan tái… 5 âm tiết 1 0,9% Giấc mơ anh lái đò… 6 âm tiết 4 3,7% Người con gái ở lầu hoa… 7 âm tiết 3 2,8% Hà Nội ba mươi sáu phố phường.. Qua khảo sát độ dài tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính chúng tôi thấy rằng Tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính có độ dài ngắn nhất là 1 âm tiết và dài nhất là 7 âm tiết. Tiêu đề được Nguyễn Bính dùng nhiều nhất là 2 âm tiết và 3 âm tiết 68,8%, tiêu đề dùng ít nhất là 5 âm tiết 0,9%. Điều này chứng tỏ đồ dài tiêu đề 15 Nguyễn Bính rất ngắn gọn nhưng vẫn thể hiện đầy đủ nội dung chủ đề các bài thơ tình Nguyễn Bính. 16 Bảng 3 Cấu tạo tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính CẤU TẠO TIÊU ĐỀ SỐ BÀI TỈ LỆ % VÍ DỤ Từ 12 Nhớ, Ghen… Lỡ bước sang ngang, Hoa với Cụm từ 84 79,24% rượu... Người con gái ở lầu hoa, Nàng đi Câu 10 9,43% lấy chồng... Qua bảng cấu tạo tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính chúng tôi thấy rằng cấu tạo tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính nhiều nhất là cụm từ 79,24% và cấu tạo tiêu đề ít nhất là câu 9,43%. Khổ thơ trong thơ tình Nguyễn Bính Khổ thơ xét về hình thức biểu hiện gồm nhiều câu thơ, có một ý tương đối độc lập hoặc có một khoảng cách nhất định khi viết, khi in. Số liệu thống kê - phân loại khổ thơ trong thơ tình Nguyễn Bính Khảo sát 106 bài thơ tình của Nguyễn Bính, chúng tôi thấy có 82 bài thơ chia khổ, số lượng khổ thơ là 418 khổ. Trong thơ tình Nguyễn Bính bài có số khổ nhiều nhất là 25 khổ Hoa với rượu, bài có số khổ ít nhất là một khổ Hoa cỏ may. Những bài thơ nhiều khổ thường nằm ở thể thơ 7 chữ Hoa với rượu 25 khổ, Mười hai bến nước 24 khổ, Viếng hồn trinh nữ 18 khổ. Phổ biến trong mỗi khổ thơ tình Nguyễn Bính là mỗi khổ 4 câu ở cả thơ lục bát, thơ 7 chữ và thơ 5 chữ. Khổ thơ mở đầu và khổ thơ kết thúc các bài thơ tình của Nguyễn Bính Trong thơ tình Nguyễn Bính có 82 bài thơ chia khổ và 24 bài thơ không chia khổ. Các bài thơ chia khổ đều có khổ mở đầu và khổ kết thúc. Khổ thơ mở đầu và kết thúc đã góp phần làm nổi bật phong cách thơ tình Nguyễn Bính đầy tự do, cảm xúc, không hề có sự lệ thuộc hay gò ép trong việc thể hiện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật thơ. Khổ thơ mở đầu và kết thúc có sự liên hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức tạo nên tính chỉnh thể trong toàn bộ tác phẩm thơ tình Nguyễn Bính. 17 Âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính a/ Vần điệu thơ Vần là một “Phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ”. b/ Nhịp điệu thơ Nhịp điệu là “Một phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chu kỳ, cách quảng hoặc luân phiên các yếu tố có quan hệ tương đồng trong thời gian hay quá trinh nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mỹ”. c/ Thanh điệu trong thơ Thanh điệu là “hiện tượng nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết. Trong tiếng việt có 6 thanh điệu, có tác dụng khu việt vỏ âm vị và được gọi là âm vị thanh điệu… mỗi thanh điệu được xác định bằng một chùm các tiêu chí khu biệt về âm vực, về âm điệu, về đường nét”. Vần điệu trong thơ tình Nguyễn Bính Bảng 4 Số liệu kết quả thống kê các loại vần trong thơ tình Nguyễn Bính Phân loại vần Số lượng cặp vần Tỷ lệ % Vần chính 416 36,26 Vần thông 139 12,11 Vần ép 112 9,76 Vần chân 259 22,58 Vần lưng 221 19,26 Qua bảng thống kê kết quả các loại vần trong 106 bài thơ tình Nguyễn Bính chúng tôi thấy có tỷ lệ số vần như sau Xét theo mức độ hoà âm số cặp gieo vần chính là 416 cặp 36,26%, số cặp gieo vần thông 139 cặp 12,11%. Xét theo vị trí gieo vần thì số cặp gieo vần chân 259 cặp 22,58%, số cặp gieo vần lưng 221 cặp 19,26%. 18 Nhịp điệu trong thơ tình Nguyễn Bính Thơ tình Nguyễn Bính đã xuất hiện những lối ngắt nhịp không còn tuân theo những quy tắc truyền thống mà tuân theo tần số dao động của tình cảm, diễn tả tâm trạng chủ quan của cái tôi cá thể, đào sâu vào thế giới nội tâm của con người. Do vậy nhịp điệu trong thơ ông là nhịp điệu tâm hồn. Lối ngắt nhịp trong thơ tình Nguyễn Bính rất tự do, mới mẻ, xôn xao hơi thở thời đại. Thanh điệu trong thơ tình Nguyễn Bính Góp phần làm nên tính nhạc tiềm ẩn trong thơ Nguyễn Bính không thể không nói đến thanh điệu. Trong thơ Nguyễn Bính giữa các câu thơ nói riêng và giữa toàn bài thơ nhà thơ đã khéo léo phối hợp các yếu tố ngữ âm đặc biệt là thanh điệu làm cho câu thơ, bài thơ mang âm hưởng và tính nhạc độc đáo. Tiểu kết chương 2 Nguyễn Bính Thơ tình guyễn BínhThơ của Nguyễn Bính1. Tương tư Nguyễn Bính2. Mưa xuân Nguyễn Bính3. Chân quê Nguyễn Bính4. Ghen Nguyễn Bính5. Thơ Nguyễn Bính về tình yêu1. Những bóng người trên sân ga2. Bóng bướm3. Cái quạt4. Sao chẳng về đây5. Tâm hồn tôi6. Đôi mắt7. Lỡ bước sang ngang8. Đóa hoa hồng9. Bảy chữ10. Chờ11. Nàng đi lấy chồng12. Hái mồng tơi13. Không ngủ14. Lại đi15. Cô hái mơ16. Thời trướcThơ của Nguyễn Bính từ lâu đã được nhiều người yêu mến bởi sự giản dị, chân chất, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ngâm thơ Nguyễn Bính giúp người đọc cảm nhận được rõ hơn về hồn thơ được Nguyễn Bính đưa vào trong tác phẩm. Sau đây là tổng hợp các bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính đã được Hoatieu sưu tầm xin chia sẻ đến bạn bài thơ hay về mùa hèThơ tình Nguyễn Bính luôn đọng lại trong lòng độc giả như một bức tranh muôn màu sắc với bao nhiêu cung bậc cảm xúc khi yêu ẩn sau trong đó. Dưới đây là những bài thơ của tác giả Nguyễn Bính đặc sắc, mời bạn đọc cùng xem và cảm Tương tư Nguyễn BínhThôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,Một người chín nhớ mười mong một mưa là bệnh của giời,Tương tư là bệnh của tôi yêu thôn chung lại một làng,Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?Ngày qua ngày lại qua ngày,Lá xanh nhuộm đã thành cây lá rằng cách trở đò giang,Không sang là chẳng đường sang đã đây cách một đầu đình,Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...Tương tư thức mấy đêm rồi,Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!Bao giờ bến mới gặp đò?Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?Nhà em có một giàn giầu,Nhà anh có một hàng cau liên Đoài thì nhớ thôn Đông,Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?2. Mưa xuân Nguyễn BínhEm là con gái trong khung cửiDệt lụa quanh năm với mẹ trẻ còn như cây lụa trắng,Mẹ già chưa bán chợ làng ấy mưa xuân phơi phới bay,Hoa xoan lớp lớp rụng vơi chèo làng Đặng đi ngang ngõ,Mẹ bảo Thôn Đoài hát tối thấy giăng tơ một mối ngừng thoi lại giữa tay như hai má em bừng đỏ,Có lẽ là em nghĩ đến bên hàng xóm đã lên đèn,Em ngửa bàn tay trước mái thấm bàn tay từng chấm lạnh,Thế nào anh ấy chẳng sang xin phép mẹ vội vàng đi,Mẹ bảo xem về kể mẹ nhỏ nên em không ướt áo,Thôn Đoài cách có một thôi Đoài vào đám hát thâu đêm,Em mải tìm anh chả thiết hẳn đêm nay đường cửi lạnh,Thoi ngà nằm nhớ ngón tay mãi anh sang anh chả sang,Thế mà hôm nọ hát bên tao bảy tuyết anh hò hẹn,Để cả mùa xuân cũng bẽ em lầm lụi trên đường về,Có ngắn gì đâu môt dải đê!Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt,Lạnh lùng em tủi với đêm giận hờn anh cho đến sáng,Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì.“- Thưa u họ hát...” Rồi em thấyNước mắt tràn ra, em ngoảnh ấy mưa xuân đã ngại bay,Hoa xoan đã nát dưới chân chèo làng Đặng về ngang ngõ,Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!Bao giờ em mới gặp anh đây?Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,Để mẹ em rằng hát tối nay?3. Chân quê Nguyễn BínhHôm qua em đi tỉnh về,Đợi em ở mãi con đê đầu nhung, quần lĩnh rộn cài khuy bấm, em làm khổ tôi!Nào đâu cái yếm lụa sồi?Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?Nào đâu cái áo tứ thân?Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?Nói ra sợ mất lòng em,Van em! Em hãy giữ nguyên quê hôm em đi lễ chùa,Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng chanh nở giữa vườn chanh,Thầy u mình với chúng mình chân qua em đi tỉnh về,Hương đồng gió nội bay đi ít Ghen Nguyễn BínhCô nhân tình bé của tôi ơi!Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cườiNhững lúc có tôi, và mắt chỉNhìn tôi những lúc tôi xa muốn cô đừng nghĩ đến ai,Đừng hôn dù thấy bó hoa ôm gối chiếc đêm nay ngủ,Đừng tắm chiều nay biển lắm muốn mùi thơm của nước hoa,Mà cô thường xức, chẳng bay xa,Chẳng làm ngây ngất người qua lại,Dẫu chỉ qua đường khách lại muốn những đêm đông giá lạnh,Chiêm bao đừng lẩn quất bên cô,Bằng không, tôi muốn cô đừng gặpMột trẻ trai nào trong giấc muốn làn hơi cô thở nhẹ,Đừng làm ẩm áo khách chưa cô in vết trên đường bụi,Chẳng bước chân nào được giẵm là ghen quá đấy mà thôi,Thế nghĩa là yêu quá mất rồi,Và nghĩa là cô và tất cả,Cô, là tất cả của riêng Thơ Nguyễn Bính về tình yêu1. Những bóng người trên sân gaNhững cuộc chia lìa khởi từ đâyCây đàn sum họp đứt từng dâyNhững đời phiêu bạt thân đơn chiếcLần lượt theo nhau suốt tối lần tôi thấy hai cô béSát má vào nhau khóc sụt sùiHai bóng chung lưng thành một bóng– “Đường về nhà chị chắc xa xôi?”Có lần tôi thấy một người yêuTiễn một người yêu một buổi chiềuỞ một ga nào xa vắng lắmHọ cầm tay họ bóng xiêu xiêu…Có lần tôi thấy vợ chồng aiThèn thẹn đưa nhau bóng chạy dàiChị mở khăn giầu, anh gói lại“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”2. Bóng bướmCành dâu cao, lá dâu caoLênh đênh bóng bướm trôi vào mắt đi đèn sách mười niênBiết rằng bóng bướm có lên kinh dâu xanh, lá dâu xanhMột mình em hái, một mình em rồi mãn khoá thi hươngNgựa điều, võng tía qua đường những ai?3. Cái quạtCái quạt mười tám cái nanAnh phất vào đấy muôn vàn nhớ nhungGió sông, gió núi, gió rừngAnh niệm thần chú thì ngừng lại Nam Bắc, gió Đông TâyHãy hầu công chúa thâu ngày, thâu đêmEm ơi công chúa là emAnh là quan trạng đi xem hoa vềTrên giời có vẩy tê têĐôi bên ước thề duyên hãy tròn duyênQuạt này trạng để làm tinĐêm nay khép mở tình duyên với Sao chẳng về đâyLối đỏ như son tới xóm Dừa,Ngang cầu đã điểm hạt mưa thưa,Xuân sang xao xuyến lòng tôi quáTôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,Đêm đêm quán trọ thức thi xa một buổi soi gương cũThấy lệch bao nhiêu mặt chữ đợi mà xuân vẫn cứ sangPhồn hoa thôi hết mộng huy nay sực tỉnh sầu đô thịTôi đã về đây rất vội đây vô số những trời xanhVà một con sông chảy rất lành,Và những tâm hồn nghe rất đẹpTừng chung sống dưới mái nhà chẳng về đây múc nước sôngTưới cho những luống có hoa hồng?Xuân sang hoa nụ rồi hoa nởPhô nhuỵ vàng hây với cánh chẳng về đây bắt bướm vàngNhốt vào tay áo, đợi xuân sang,Thả ra cho bướm xem hoa nởCánh bướm vờn hoa loạn phấn hương?Sao chẳng về đây có bạn hiền,Có hương, có sắc, có thiên nhiênSống vào giản dị, ra tươi sángTìm thấy cho lòng một cảnh tiên?Sao chẳng về đây lục tứ thơHỡi ơi, hồn biển rộng không bờChùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuởThiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ?Sao chẳng về đây, nỡ lạc loàiGiữa nơi thành thị gió mưa phaiChết dần từng nấc, rồi mai mốtChết cả mùa xuân, chết cả đời?Xuân đã sang rồi em có hayTình xuân chan chứa, ý xuân đầyKinh kỳ bụi quá, xuân không đếnSao chẳng về đây? Chẳng ở đây?5. Tâm hồn tôiTâm hồn tôi là bình rượu nhỏRót lần rót mãi xuống nàng OanhKhông xua tay nhưng nàng đã vô tìnhHất ly rượu hồn tôi qua cửa sổ…6. Đôi mắtVò nhàu chéo áo làm vuiƯớt đôi mắt đẹp nhìn tôi nặng tìnhSông đầy lạnh bến dừa xanhKể từ ngày cưới xa anh lần đầuChiều quê lùi lại sau tàuMắt em sáng mãi chòm sao trên trờiĐưa chồng vượt biển ra khơiĐêm đêm con mắt vì tôi thức ròng…Miền Nam em đứng trông chồngĐầu sông ngọn sóng một lòng đinh ninhCó trong đôi mắt em xinhÁnh hồ Gươm biếc in hình ảnh tôiXóm thưa bằn bặt tiếng cườiLúa non đổ bãi, trái tươi rụng vườnMắt em sực tỉnh lửa hờnTrái ngon lại chín, lúa thơm lại vàngNghiêng đầu hôn tóc con ngoanMắt em giếng ngọt mơ màng trăng thanhCon nhìn mắt mẹ long lanhĐẹp lời sông núi thắm tình cha conMây bay tóc phố đầu thônAnh thương đôi mắt vẫn tròn ánh saoMây thu thăm thẳm từng caoMắt em rót sáng thêm vào mắt anhĐường về dựng suối treo ghềnhChân ta vững bước, mắt mình rối trôngChiều quê lại ngát hương đồngĐêp sao đôi mắt tiễn chồng hôm xưa…7. Lỡ bước sang ngangEm ơi! em ở lại nhàVườn dâu em đốn, mẹ già em thươngMẹ già một nắng hai sươngChị đi một bước trăm đường xót xaCậy em, em ở lại nhàVườn dâu em đốn, mẹ già em thươngHôm nay xác pháo đầy đườngNgày mai khói pháo còn vương khắp làngChuyến này chị bước sang ngangLà tan vỡ giấc mộng vàng từ đâyRượu hồng em uống cho sayVui cùng chị một vài giây cuối cùngRồi đây sóng gió ngang sôngĐầy thuyền hận, chị lo không tới bờMiếu thiêng vụng kén người thờNhà hương khói lạnh chị nhờ cậy emĐêm qua là trắng ba đêmChị thương chị kiếp con chim lìa đànMột vai gánh lấy giang san…Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thươngMắt quầng tóc rối tơ vươngEm còn cho chị lược gương làm gì!Một lần này bước ra điLà không hẹn một lần về nữa đâuCách mấy mươi con sông sâuVà trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênhCũng là thôi cũng là đànhSang sông lỡ bước riêng mình chị sao?Tuổi son nhạt thắm phai đàoĐầy thuyền hận, có biết bao nhiêu người!Em đừng khóc nữa em ơi!Dẫu sao thì sự đã rồi, nghe em!Một đi bảy nổi ba chìmTrăm cay nghìn đắng con tim héo dầnDù em thương chị mười phầnCũng không ngăn nổi một lần chị điChị tôi nước mắt đằm đìaChào hai họ để đi về nhà aiMẹ trông theo, mẹ thở dàiDây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ranTôi ra đứng tận đầu làngNgùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa…Trời mưa ướt áo làm gì?Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồngNgười ta pháo đỏ rượu hồngMà trên hồn chị một vòng hoa tangLần đầu chị bước sang ngangTuổi son sông nước đò giang chưa tườngỞ nhà em nhớ mẹ thươngBa gian trống, một mảnh vườn xác xơMẹ ngồi bên cửi xe tơThời thường nhắc “- Chị mày giờ ra sao?”Chị bây giờ… nói thế nào?Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoangChị từ lỡ bước sang ngangTrời dông bão giữa tràng giang lật thuyềnXuôi dòng nước chảy liên miênĐưa thân thế chị tới miền đau thươngMười năm gối hận bên giườngMười năm nước mắt bữa thường thay canhMười năm đưa đám một mìnhĐào sâu chôn chặt mối tình đầu tiênMười năm lòng lạnh như tiềnTim đi hết máu mà duyên không vềNhưng em ơi! một đêm hèHoa xoan nở, xác con ve hoàn hồnDừng chân trên bến sông buồnNhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sangĐoái thương thân chị lỡ làngĐoái thương phận chị dở dang những ngàyRồi… rồi chị nói sao đây?Em ơi! nói nhỏ câu này với em…Thế rồi máu trở về timDuyên làm lành chị duyên tìm về môiChị nay lòng ấm lại rồiMối tình chết đã có người hồi sinhChị từ dan díu với tìnhĐời tươi như buổi bình minh nạm vàngTim ai khắc một chữ “nàng”Mà tim chị một chữ “chàng” khắc theoNhưng yêu chỉ để mà yêuChị còn dám ước một điều gì hơnMột lầm hai lỡ keo sơnMong gì gắn lại phím đờn ngang cungRồi đêm kia lệ ròng ròngTiễn đưa người ấy sang sông, chị vềTháng ngày qua cửa buồng theChị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùaÚp mặt vào hai bàn tayChị tôi khóc suốt ba ngày ba đêm– Đã đành máu trở về timNhưng khôn buộc nổi cánh chim giang hồNgười đi xây dựng cơ đồChị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuânNgười đi khoác áo phong trầnChị về may áo liệm dần nhớ thươngHồn trinh ôm chặt chân giườngĐã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngâyNăm xưa đêm ấy giường nàyNghiến răng nhắm mắt cau mày… cực chưa?Thế là tàn một giấc mơThế là cả một bài thơ não nùngTuổi son má đỏ môi hồngBước chân về đến nhà chồng là thôiĐêm qua mưa gió đầy giờiMà trong hồn chị có người đi quaEm về thương lấy mẹ giàĐừng mong ngóng chị nữa mà uổng côngChị giờ sống cũng bằng khôngCoi như chị đã ngang sông đắm Đóa hoa hồngThưa đây, một đoá hoa hồngVà đây một án hương lòng hoang vuĐầu bù trở lại kinh đôTơ vương chín mối sầu cho một lòngTình tôi như đóa hoa hồngỞ mương oan trái, trong lòng tịch liêuKinh đô cát bụi bay nhiềuTìm đâu thấy một người yêu hoa hồng?9. Bảy chữMây trắng đang xây mộng viễn hành,Chiều nay tôi lại ngắm trời xanh,Trời xanh là một tờ thư rộng,Tôi thảo lên trời mấy nét trọn năm dài trên vách đá,Bốn bề lá đổ ngợp hơi thu,Vừa may cánh nhạn về phương ấy,Tôi gửi cho nàng bức ngọc ngựa chiều nay ngập thị thành,Chiều nay nàng bắt được trời xanh,Đọc xong bảy chữ thì thương lắm,“Vạn lý tương tư, vũ trụ tình.”10. ChờHẹn cho một hẹn, anh chờEm may áo nái bao giờ cho xongLạy giời, tắt gió ngang sôngQua đò biếu áo yên lòng em anh đi lấy chồng mong tằm tốt bằng mười mọi Nàng đi lấy chồngHôm nay ăn hỏi tưng bừngNgày mai thì cưới, độ chừng ngày kiaNàng cùng chồng mới nàng vềRồi cùng chồng mới nàng đi theo chồngTôi về dạm vợ là xongVợ người làng, vợ xóm Đông quê mùaVợ tôi không đợi, không chờKhông nhan sắc lắm, không thơ mộng gìLấy tôi bởi đã đến thìLấy tôi không phải bởi vì yêu tôiHôm nay tôi lấy vợ rồiTừ đây tôi sẽ là người bỏ điPháo ơi, mày nổ làm gì?Biến ra tất cả pháo xì cho tao!12. Hái mồng tơiHoa lá quanh người lác đác rơiCuối vườn đeo giỏ hái mồng tơiMồng tơi ứa đỏ đôi tay nõnCô bé nhìn tay nhí nhảnh cườiCách vườn tiếng gọi khẽ đưa sangRẽ lá cô em trốn vội vàngQuên giỏ mồng tơi bên dậu vắngTôi đem nhặt lấy gởi đưa nàngNăm tháng ta vui chốn ngựa hồngCảnh xưa gò ngựa một chiều đôngCây khô dậu đổ mồng tơi héoCô bé nhà bên đã có Không ngủCó trăng bóng lạnh vườn đàoCó giàn nhạc ngựa lơi vào trong trong lòng với con timCó lời em, có bóng em rõ trăng, ai thả sang đoàiĐêm khuya mở nhẹ then cài cửa vào, bóng nữa là ba,Với em ở trái tim ta là Lại điMẹ tôi tóc bạc da mồiThắt lưng buộc bụng một đời nuôi conChị tôi phấn úa hương mònĐò ngang sông cái chẳng tròn chuyến sangCha tôi ngàn dặm quan sanCó đâu như chuyện chia vàng giữa sông?Người yêu má đỏ môi hồngTóc xanh, mắt biếc mà lòng bạc đenVề đây sống để mà quênChiều chiều ngắm bóng chị hiền quay tơChị tôi im lặng đợi chờTôi im lặng đến bao giờ đợi ai?Chị tôi đã dở dang rồiLẽ đâu tôi chịu một đời dở dang!Cha tôi dạ sắt gan vàngLẽ đâu tôi chịu quy hàng phấn sonLạy đôi mắt mẹ đừng buồnNgày mai con lại lên đường ra Cô hái mơThơ thẩn đường chiều một khách thơSay nhìn xa rặng núi xanh lơKhí trời lặng lẽ và trong trẻoThấp thoáng rừng mơ cô hái mơHỡi cô con gái hái mơ giàCô chửa về ư? Đường thì xaMà cái thoi ngày như sắp tắtHay cô ở lại về cùng ta?Nhà ta ở dưới gốc cây dươngCách động Hương Sơn nửa dặm đườngCó suối nước trong tuôn róc ráchCó hoa bên suối ngát đưa hươngCô hái mơ ơi!Chả giả lời nhau lấy một lờiCứ lặng rồi đi, rồi khuất bóngRừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…16. Thời trướcSáng giăng chia nửa vườn chèMột gian nho nhỏ đi về có nhauVì tằm tôi phải chạy dâuVì chồng tôi phải qua cầu đắng cayChồng tôi thi đỗ khoa nàyBõ công đèn sách từ ngày lấy tôiKẻo không rồi chúng bạn cườiRằng tôi nhan sắc cho người say sưaTôi hằng khuyên sớm khuyên trưa“Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng”Một quan là sáu trăm đồngChắt chiu tháng tháng cho chồng đi thiChồng tôi cưỡi ngựa vinh quiHai bên có lính hầu đi dẹp đàngTôi ra đón tận gốc bàngChồng tôi xuống ngựa cả làng ra xemĐêm nay mới thật là đêmAi đem trăng sáng giãi lên vườn các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của

thơ tình của nguyễn bính