Bệnh tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm trùng cấp tính của amiđan hay nhiễm trùng da, thường gặp ở trẻ em, do liên cầu tan huyết nhóm A, đôi khi do tụ cầu vàng gây ra. Thường sau 2-3 ngày bị bệnh nhiễm trùng ở họng hay ở trên da thì bệnh nhân có biểu hiện phát ban.
Bệnh ban đỏ, hay còn gọi là sốt Scarlet hoặc sốt tinh hồng nhiệt, là một bệnh do vi khuẩn phát triển trong một số người bị viêm họng, Bài Viết: Scarlet fever là gìSốt scarlet là một bệnh nhiễm trùng truyền nhiễm chủ yếu liên quan đến trẻ nhỏ dại and dễ dàng đc điều trị bằng kháng sinh
Thay đổi nhiệt độ và màu da. Ngay cả khi thời tiết chuyển lạnh, bạn vẫn có thể cảm thấy nóng nực, khó chịu. Sự thay đổi nhiệt độ cơ thể này là dấu hiệu cảnh báo cơ thể bạn đang quá nóng.
Tinh hồng nhiệt là nhiễm trùng cấp ở amygdales, da và các vị trí khác của cơ thể do một chủng streptococcus nhóm A beta-tan máu (GABHS) sản xuất ngoại độc tố gây ra. - Bệnh thường đi kèm với phát ban đỏ do nhiễm độc điển hình. - Sự sản xuất độc tố tùy thuộc vào khả
SỐT TINH HỒNG NHIỆT Bệnh gặp ở trẻ em, do vi khuẩn liên cầu tan huyết beta nhóm A có tiết ngoại độc tố (erythrogenic toxins: ngoại độc tố gây hồng ban) gây ra, biểu hiện lâm sàng là tình trạng sốt cao, viêm họng- amidan xuất tiết có thể kèm giả mạc, nổi hạch cổ, lưỡi
Bệnh Tinh Hồng Nhiệt cũng giống như viêm amiđan, chỉ khác có một điều là nó sinh ra nổiban cũng như làm cho đau họng. Thời gian ủ bệnh từ một đến năm ngày, sau đó các triệu chứng mới tự động xuất hiện.
kvZQ. Định nghĩa Bệnh lây do liên cầu khuẩn tan máu beta; khởi phát đột ngột, sốt rét run, đau họng đỏ, nội ban và ngoại ban điển hình. Căn nguyên Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn Streptococcus pyogenes, nhóm A, gây tan máu. Bệnh tinh hồng nhiệt xảy ra ở người bị nhiễm khuẩn mà không có miễn dịch với độc tố lên hồng cầu là chất gây nổi ban ở da. Bệnh lây truyền trực tiếp hay gián tiếp do hít phải các giọt nước bọt của người bệnh hay người lành mang “khuân. Bệnh gây miễn dịch. Dịch tễ học Bệnh được gặp ở các vùng ôn đới; ít thấy ở các vùng nhiệt đới. Bệnh lưu hành ở các thành phố; tản phát ở nông thôn. Dịch hay xảy ra vào mùa xuân và mùa thu. Bệnh ít xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng, hay hặp ở trẻ 3-12 tuổi. Triệu chứng hay gặp các thế không có triệu chứng hay không điển hình Ủ BỆNH 1-3 ngày đến 8 ngày. THỜI KỲ XÂM LẤN Hội chứng nhiễm khuẩn khởi phát đột ngột, có nhức đầu, rét run liên tục hay cơn rét run lặp đi lặp lại, thân nhiệt tăng ngay lên 40° và nhịp tim nhanh. Thường có nôn mửa và ở trẻ nhỏ có thể có các cơn co giật. Viêm họng đỏ viêm cả hai bên, có màu đỏ carmin rất sẫm, lan đến các cột trụ sau và tới màn hầu. Rìa và đầu lưỡi cũng bị đỏ, lưỡi có lóp bựa dày. Phản ứng hạch rất mạnh và đau ở các vùng xung quanh. Đau họng gây khó ăn. Nội ban xuất hiện sau khoảng 24 giờ. Đến ngày thứ 7, lưỡi trông giống như quả dâu rừng vì các gai lưỡi bị sưng và nhô lên. NGOẠI BAN nổi ban sau 48 giờ, bắt đầu từ các gốc chi rồi nhanh chóng mọc ở thân, cổ, chi và mặt. Ban mọc lan dần, rất nhanh, bao giờ bàn chân và bàn tay cũng bị cuối cùng nhưng không có ban ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Ban ở mọi nơi là giống nhau đỏ, lan toả, thành vằn, tạo nên các mảng rộng xen kẽ với các mảng da bình thường. Ban bị mất đi nếu lấy lam kính đè lên. Trên nền ban nổi lên các nốt sẩn đỏ, nhỏ như đầu ghim, tạo các đường đỏ sẫm, sờ lên thấy thô ráp. Ban rất dày ở các nếp gấp và trông giống như đám máu tụ, có các đường đỏ sẫm do các đám xuất huyết nhỏ, không bị mất đi khi đè lam kính lên dấu hiệu Pastia. Trên mặt, đôi khi ban nổi có hình như vết roi quất, như vết lằn do bị tát dâu hiệu Trousseau, cằm, môi và cánh mũi không có ban dấu hiệu Filatov. Tuỳ theo từng trường hợp, người ta gọi là tinh hồng nhiệt thể sẩn, thể kê hay thể giống pemphigut. BONG VẢY ban lặn kể từ ngày thứ 4 thứ 5. Bắt đầu bong vẩy từ ngày thứ 7 và kéo dài 2-3 tuần, ở thân mình, các vẩy tạo thành các vết tròn có đường kính vài milimet. ở mặt, vẩy là lớp bụi mịn; còn ở chi lại tạo thành các dải hình “găng tay ngón” ở bàn tay. Tình trạng toàn thân được cải thiện nhanh chóng. THỂ KHÔNG ĐIỂN HÌNH rất hay gặp do việc dùng kháng sinh để chữa bệnh do liên cầu khuẩn. THỂ ÁC TÍNH tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, hoặc là vào lúc đầu hoặc là vào ngày thứ 5, thứ 6. Biến chứng hiếm gặp kể từ khi có kháng sinh Viêm tai giữa và viêm xương chũm, viêm họng có loét và hoại tử, apxe quanh amiđan. Viêm cầu thận cấp protein niệu, đái ra máu, hiếm khi bị suy thận. Viêm khớp đau khởp, tràn dịch ổ khớp, khu trú ở bàn tay hay cổ tay xem thấp khớp cấp. Viêm màng trong tim. Xét nghiệm lâm sàng Huyết đồ tăng bạch cầu tới với 70-90% là bạch cầu trung tính; giảm dần vào ngày thứ 6. Một nửa số trường hợp có bạch cầu ưa acid tăng từ 4 đến 20%. Có thể thấy các thể vùi trong các bạch cầu lympho thể Dohle. Thường có thiếu máu nhẹ. Tốc độ lắng máu tăng. Tăng antistreptolysin 0 ASO hay ASLO và tăng anti-DNase B. Cấy liên cầu từ ngoáy họng. Phản ứng Dick và phản ứng Schultz-Charlton không còn được dùng nữa. Chẩn đoán Có yếu tố lây nhiễm hay có dịch. Khởi phát đột ngột, có sốt, đau họng, nôn mửa. Đau họng đỏ, sưng hạch địa phương, lưỡi như quả dâu rừng. Ngoại ban điển hình. Phản ứng ngưng kết và cấy liên cầu khuẩn cho kết quả dương tính. Chẩn đoán phân biệt Viêm họng thông thường. Bạch hầu nuôi cấy giả mạc. Có thể có kết hợp bạch hầu và tinh hồng nhiệt. Rubeon ban đa dạng hơn, không bị viêm họng, sưng hạch sau tai. Phản ứng dị ứng với thuốc ban đa dạng, mày đay. Sởi ngoại ban kiểu khác, bắt đầu từ mặt, nốt Koplik. Tiên lượng tỷ lệ tử vong chung là dưới 0,5% nhưng có thể tối 3% ở một số vùng. Tần suất và mức độ nặng của tinh hồng nhiệt đã giảm do việc điều trị và dùng thuốc phòng các bệnh do liên cầu khuẩn. Tuy vậy, bệnh vẫn có thể nặng ở trẻ dưới 1 tuổi. Điều trị ĐẶC HIỆU Benzathin benzylpenicillin; tiêm một liều duy nhất 1-1,2 triệu đơn vị cho trẻ đỡn vị/kg; hoặc Phenoxymethylpenicillin penicillin V có tác dụng theo đường uống với điều kiện phải dùng trong 10 ngày, liều 250 g 6 giờ một lần cho trẻ con 50mg/kg/ngày. Erythromycin có thể thay thế penicillin trong trường hợp bị dị ứng. Cho uống 0,5 g; 6 giờ một lần trong 10 ngày 20mg/kg/ngày ở trẻ con ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG nghỉ ngơi tại giường cho đến khi lui bệnh, bù nước theo đường uống, giảm sốt và giảm ho, theo dõi protein niệu. TIÊU CHUẨN KHỎI BỆNH xét nghiệm họng vào cuối đợt điều trị, không thấy có vi khuẩn. Phòng bệnh điều trị người lành mang liên cầu khuẩn bằng phenoxymethylpenicillin với liều đơn vị/ngày trong 10 ngày. Nếu bị dị ứng, có thể dùng erythromycin 250-500 mg; 6 giờ uống một lần. Phiến đồ họng cho phép đánh giá sự đào thải liên cầu khuẩn từ họng. Trở lại trường với giấy xác nhận đã được điều trị.
Mục lục Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh gì? Nguyên nhân và con đường lây truyền sốt tinh hồng nhiệt Các yếu tố nguy cơ Dấu hiệu và triệu chứng sốt tinh hồng nhiệt Chẩn đoán và điều trị sốt tinh hồng nhiệt Sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến biến chứng nào? Cách chăm sóc và phòng ngừa bệnh sốt tinh hồng nhiệt Biện pháp phòng ngừa 1. Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh gì? Sốt tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm trùng cấp tính của amidan hay nhiễm trùng da, thường gặp ở những người trước đó có viêm họng hoặc bị chốc. Bệnh do vi khuẩn thuộc chủng liên cầu tan huyết nhóm A, đôi khi là do tụ cầu vàng gây ra. Bệnh đặc trưng bởi các chấm màu đỏ - hồng, bóng, bao phủ toàn bộ cơ thể. Độc tố của vi khuẩn liên cầu nhóm A gây ra ban trong sốt tinh hồng nhiệt. Bệnh sốt tinh hồng nhiệt thường xảy ra ở trẻ em từ 2 – 10 tuổi. Khoảng 80% trẻ trên 10 tuổi có kháng thể kháng độc tố liên cầu suốt đời, trẻ dưới 2 tuổi vẫn còn kháng thể kháng ngoại độc tố có được từ mẹ. Tỷ lệ giữa nam và nữ bị sốt tinh hồng nhiệt là như nhau. 2. Nguyên nhân và con đường lây truyền sốt tinh hồng nhiệt Nhiễm khuẩn liên cầu nhóm A chính là nguyên nhân gây ra sốt tinh hồng nhiệt. Loại vi khuẩn này tiết ra một chất độc và tạo ra những phản ứng trong cơ thể gây ban đỏ. Đôi khi những bệnh liên quan đến da như bệnh chốc cũng có thể dẫn đến sốt tinh hồng nhiệt. Sốt tinh hồng nhiệt là một bệnh truyền nhiễm. Liên cầu khuẩn nhóm A lây từ người này sang người khác qua các giọt nước bọt bắn ra từ đường hô hấp do ho, hắt hơi,... Nguồn bệnh cũng có thể có ở người mang vi khuẩn nhưng không biểu hiện triệu chứng bệnh. Theo thống kê, khoảng 15 – 20% trẻ em trong lứa tuổi đi học thuộc nhóm người lành mang vi khuẩn. Người mang vi khuẩn phải có cơ địa nhạy cảm với độc tố liên cầu khuẩn mới phát bệnh. Vì vậy, trong gia đình có 2 trẻ cùng mang vi khuẩn nhưng chỉ có 1 trẻ tiến triển thành số tinh hồng nhiệt. Sốt tinh hồng nhiệt có thể lây qua những tổn thương ở da Nguồn Internet Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây do có những tiếp xúc trực tiếp với những thương tổn ở da, dùng chung quần áo, vật dụng nhiễm khuẩn... Các yếu tố nguy cơ Trẻ đang sống trong các khu tập thể đông đúc như trường học, nhà trẻ... Trẻ trên 2 tuổi. Trẻ có tiếp xúc với người bị viêm họng hoặc nhiễm khuẩn da. 3. Dấu hiệu và triệu chứng sốt tinh hồng nhiệt Sốt tinh hồng nhiệt thường có thời gian ủ bệnh từ khoảng 1 – 4 ngày. Các triệu chứng thường là Bắt đầu với dấu hiệu sốt cao đột ngột kèm theo đau bụng, nổi hạch vùng cổ sưng to, đau đầu, buồn nôn, ăn không ngon miệng, lưỡi sưng đỏ, mệt mỏi. Ban tinh hồng nhiệt sẽ xuất hiện sau khi có dấu hiệu sốt từ 12 – 48 giờ. Vị trí xuất hiện đầu tiên sẽ là vùng dưới tai, cổ, ngực, nách, háng. Sau đó sẽ lan ra các vùng khác của cơ thể sau 24 giờ tiếp theo. Ban dạng thô, nhỏ, bóng, đồng đều, có nơi tập trung thành mảng. Khi thưởng tổn da lan rộng, sờ vào da có cảm giác như sờ vào giấy nhám. Các nếp gấp của cơ thể, đặc biệt là ở vùng nách và khủy, các mạch máu mỏng manh có thể vỡ, tạo thành các đường đỏ gọi là đường pastia, tồn tại 1 – 2 ngày sau khi ban đỏ đã biến mất. Gây ngứa ngáy. Nếu không được điều trị, tình trạng sốt và ban đỏ sẽ tiến triển nghiêm trọng vào ngày thứ 2 và từ từ về bình thường trong 5 – 7 ngày tiếp theo. Sau đó, các ban đỏ bắt đầu mờ, bong da, giống như diễn biến của bỏng nắng. Ở các vùng như nách, háng, đầu ngón tay, chân, da sẽ bong lâu hơn, thậm chí kéo dài đến 6 tuần. 4. Chẩn đoán và điều trị sốt tinh hồng nhiệt Thông thường việc chẩn đoán trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt thường dựa vào diễn biến của bệnh và các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng. Ngoài ra, có thể dựa vào các xét nghiệm như Nuôi cấy vi khuẩn hoặc xét nghiệm nhanh liên cầu từ bệnh phẩm vùng hầu hoặc từ hạch amidan. Định lượng kháng thể kháng deoxyribonuclease và kháng thể kháng streptolysin O ASLO. Sốt tinh hồng nhiệt có thể được chẩn đoán qua các triệu chứng lâm sàng Nguồn Internet Sau khi chẩn đoán, nếu xác định nguyên nhân là do nhiễm khuẩn liên cầu nhóm A, bác sĩ sẽ chỉ định dùng kháng sinh cho trẻ đủ liều và đủ thời gian. Thời gian điều trị khoảng 10 ngày. Thông thường, tình trạng sốt sẽ cải thiện sau 12 – 24 giờ sau khi bắt đầu dùng kháng sinh. Tuy nhiên, các biểu hiện da có thể kéo dài trong vài tuần. Lưu ý Các triệu chứng có thể sẽ thuyên giảm rất nhanh sau khi dùng thuốc. Song, không vì thế mà cha mẹ ngừng thuốc ở trẻ, vì thuốc cần phải uống đủ liều lượng để tránh các biến chứng. 5. Sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến biến chứng nào? Mặc dù hiện nay, sốt tinh hồng nhiệt đã có thể điều trị bằng thuốc kháng sinh và hầu như đã được loại bỏ ở những nước phát triển. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt có thể dẫn đến các biến chứng như Viêm xoang, viêm tai, viêm phổi, viêm não... Ngoài ra, bé cũng có thể gặp một số biến chứng nghiêm trọng hơn sau vài tuần như viêm cầu thận, viêm tủy xương... 6. Cách chăm sóc và phòng ngừa bệnh sốt tinh hồng nhiệt Trẻ bị sốt tinh hồng nhiệt cần có một chế độ chăm sóc tốt, vì thế cha mẹ cần Điều chỉnh nhiệt độ phòng bé phù hợp. Đừng cho bé mặc quá nhiều quần áo khi bé đang bị sốt. Duy trì độ ẩm của cơ thể trẻ bằng cách cho bé uống nhiều nước. Cho bé ăn những món ăn mềm và lỏng như cháo thịt bằm với hành, súp... Biện pháp phòng ngừa Sốt tinh hồng nhiệt là bệnh dễ lây nhiễm. Do đó, cha mẹ nên chú ý những điều sau để tránh lây lan cho các thành viên khác trong gia đình Dùng ly, tách và đồ dùng ăn uống riêng, phải rửa với nước nóng và xà phòng trước và sau khi sử dụng. Tạm thời cho bé nghỉ học. Dạy bé cách sử dụng khăn giấy che mũi và miệng khi hắt hơi hoặc ho để tránh sự lây lan. Rửa tay bằng xà phòng thường xuyên. Cắt móng tay cho bé để ngăn việc bé gãy khi vết ban gây ngứa.
Hội chứng phát ban nhiễm trùng thường gặp ở trẻ nhỏ. Biểu hiện của hội chứng này là sự xuất hiện ban ngoài da do các nguyên nhân vi-rút hoặc vi khuẩn, kí sinh trùng,.. trong đó đặc điểm ban ngoài da là yếu tố giúp chẩn đoán và điều trị phù hợp. 1. Hội chứng phát ban nhiễm trùng là gì? Sốt phát ban là tình trạng sau khi hết sốt trẻ sẽ xuất hiện nổi các đốm nhỏ bằng hoặc nhô lên trên da, thường gặp ở trẻ thường tự khỏi và sẽ khỏi nếu được nghỉ ngơi và uống thuốc đầy đủ. Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh có thể gây sốt cao và dẫn đến biến sốt phát ban vô cùng phổ biến ở trẻ em trong độ tuổi từ 6 tháng đến 2 tuổi do lượng kháng thể truyền từ mẹ truyền cho trẻ đã giảm xuống và hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Sốt phát ban thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi 2. Các phát ban nhiễm trùng thường gặp Ban dạng sởi, dạng tinh hồng nhiệt. Loại ban dát hay sẩn, có thể rời rạc hay liền nhau, xuất hiện ở toàn thân, trừ lòng bàn tay, bàn chân. Ban sẽ mất đi khi căng tinh hồng nhiệt do liên cầu. Chẩn đoán bệnh dựa vào độ tuổi, đau họng cấp, ban dày đặc, không có khoảng da lành, nhiều ở chỗ nếp gấp, viền..., bong vảy thành mảng cuối cùng ban mờ Chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng xuất hiện viêm long mũi họng, hạt Koplik trong miệng, tiến triển. Ban mọc tuần tự từ trên đầu đến chân, ban Rubella. Sự xuất hiện ban dạng sởi lần hai sau ban dạng tinh hồng nhiệt, hạch to, tăng bạch cầu đơn nhân, đau ban do dị ứng thuốc. Tất cả các thuốc đều có thể gây nên. Có thể gặp tất cả các dạng ban, thường ngứa xảy ra sau 1 ngày hoặc muộn, 9 ngày sau dùng kháng do Enterovirus. thường gây phát ban dạng sởi. Phát ban kèm theo các triệu chứng ít điển hình của nhiễm trùng giống như giả cúm, tiêu chảy, đau đầu, đau do virus Parvovirus B19. Khởi đầu ban mọc ở mặt, sau 48 giờ thì ban lan rộng ra tay chân hay ở gốc chi, có rìa đỏ bao quanh. Ban có có thể gặp ở gan bàn tay. Bệnh nhân không sốt, không ảnh hưởng đến toàn trạng, tự khỏi sau 3-4 tuần, không để lại biến gan virus B. Thường gặp ban ở mặt sau lan xuống tay chân hạch ngoại biên to, gan lách có thể to. Dị ứng thuốc kháng sinh có thể dẫn tới phát ban Ban do vi hồng gặp trong bệnh thương ban da dạng sởi gặp trong bệnh do Leptospira hay bệnh do dát của giang mai vòng đặc trưng của thấp tim, ban quầng của liên cầu, ban quầng như bệnh đóng dấu của lợn và viêm quầng mạn hướng nhiều đến nguyên nhân do bệnh do ký sinh trùng. Nguyên nhân do Toxoplasma, ban dạng sởi gặp ở mông, mặt hay gan bàn tay, chân. Kiểu ban mề đay khởi đầu đôi khi ban kiểu tinh hồng nhiệt là do nang Kawasaki. Biểu hiện sốt liên tục 7 ngày hoặc 2- 3 tuần, kèm theo xung huyết võng mạc, có ban miệng họng, môi khô nứt nẻ. Lưỡi viêm dầy, có hình phù nề dưới da lan đến tứ chi, ban dát sẩn màu tím ở gan bàn tay, chân, có ban tinh hồng nhiệt, ban dạng sởi đa hình thái, hạch cơ ức đòn chũm dạng nốt phỏng Thường là do virus, virus Herpes hay Enterovirus, Virus thuỷ đậu, ZonaVirus Herpes ở người Ban ở dạng từ ban đỏ đến nốt phỏng, ban ở da, niêm chứng tay - chân- miệng ở trẻ nhỏ, khởi đầu phát ban ở khoang miệng, ban phỏng nước dạng dạng có mủ do chốc mụn mủ chốc lở hay mủ do nhiễm trùng liên cầu hay tụ gan bàn tay, bàn chân do các nguyên nhân như Giang mai, Tay chân miệngBan đỏ nút Erythema nodosum. Là viêm da và tổ chức dưới da bán cấp do viêm mạch của các mạch lớn ở dưới da. Nốt có đường kính 2- 4cm, nổi gồ rõ, màu hồng sau đỏ dần lên. Nổi ban trong gan bàn chân do mắc tay chân miệng 3. Chăm sóc phòng bệnh cho trẻ bị sốt phát ban Sốt phát ban ở trẻ thường cần được chăm sóc tốt, tăng cường sức đề kháng cho trẻ, trẻ có thể hồi phục ly trẻ bị sốt phát ban với các trẻ khác vì vậy cho trẻ nghỉ ngơi trên giường, phòng sạch sẽ thoáng. Tránh tập trung đông ngườiRửa tay kỹ thường xuyên để tránh lây lan bệnh cho những người chưa bị trong gia đìnhHạ sốt cho trẻ đúng cách Nếu bé sốt cao từ 38,5°C trở lên, bạn có thể cho bé uống paracetamol theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, chườm cho trẻ bằng nước ấmBổ sung đủ nước Bạn nên khuyến khích bé uống đủ nước, chất điện giải bù khoáng, nước chanh, nước ép trái cây tươi... để tránh mất nướcTăng cường dinh dưỡng đầy đủ đảm bảo dinh dưỡng cho trẻLau sạch mũi, vệ sinh răng miệng tránh bội nhiễm vi khuẩnVệ sinh cơ thể sạch sẽ thường xuyên, tránh kiêng gió, nướcTăng cường sức đề kháng cho trẻ cũng như các thành viên trong gia đình như vitamin C và các thực phẩm giàu vitamin CBệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Bị thủy đậu có ngứa không? Làm sao để không bị lây thủy đậu? Bị thủy đậu đã 2 tuần chưa khỏi có sao không? Dịch vụ từ Vinmec Bài viết liên quan
Tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp. Vụ dịch tinh hồng nhiệt sớm nhất là ở Sicile ý năm 1543. Khoảng thế kỷ XVII, người ta đã phân biệt tinh hồng nhiệt với bệnh sởi và gọi là scarlatine tinh hồng nhiệt TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ CHẨN ĐOÁN BẰNG XÉT NGHIỆM Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh đến nay vẫn chưa được xác định. Trong những năm 1884- 1885, người ta đã chú ý đến những liên cầu khuẩn làm tan máu tìm thấy ở họng những người bị bệnh tinh hồng nhiệt. Những mãi đến năm 1923-1925. Dick mới chứng minh được vai trò bệnh căn của vi khuẩn này trong bệnh tinh hồng nhiệt. Nhà bác học này đã gây ra bệnh thực nghiệm cho người bằng liên cầu khuẩn dung huyết phân lập từ họng người bệnh, và đã tạo được miễn dịch cho người bằng những chế phẩm liên cầu khuẩn nuôi cấy. Sau này lại thấy phản ứng Dick với độc tố liên cầu khuẩn tiêm trong da dương tính ở những người tiếp thu bệnh tinh hồng nhiệt. Những người phản đối thuyết này đã đưa ra nhiều luận cứ quan trọng Liên cầu khuẩn dung huyết thường thấy ở họng 50-70% những người lành mạnh và ở những người mắc bệnh khác thí dụ bệnh bạch hầu. Không có một tiêu chuẩn nào để phân biệt liên cầu khuẩn dung huyết tinh hồng nhiệt với các liên cầu khuẩn dung huyết khác. Miễn dịch tạo ra ở người bằng các chế phẩm từ liên cầu khuẩn dung huyết còn đang nghi ngờ. Bệnh tinh hồng nhiệt gây miễn dịch lâu dài, trong khi đó, những bệnh khác rõ ràng là do liên cầu khuẩn dung huyết gây ra như quá trình mưng mủ, viêm quầng không có miễn dịch bền vững, mà còn có khi tạo ra nhạy cảm đối với sự nhiễm lại thí dụ ở bệnh viêm quầng. Người ta cũng đã tách được từ họng người bị bệnh tinh hồng nhiệt những virut có thể là tác nhân gây bệnh. Nói đúng hơn, tác nhân gây bệnh tinh hồng nhiệt là một liên hợp virut đặc hiệu và liên cầu làm tan huyết. Đó là kết luận của hội nghị quốc tế ở ý năm 1956 dành để thảo luận đặc biệt về vấn đề này. Giải quyết dứt khoát vấn đề bệnh căn của tinh hồng nhiệt là rất khó, bởi vì không có động vật thí nghiệm thích hợp để gây bệnh thực nghiệm. Chỉ có một vài loại khi giống như người là tiếp thu bệnh này ở mức độ thấp. Liên cầu khuẩn có cấu trúc kháng nguyên khác nhau gây ra vài chục typ huyết thanh. Nhưng tất cả các liên cầu khuẩn đó đều sinh ngoại độc tố giống nhau. Sức chịu đựng của liên cầu khuẩn ở ngoài cơ thể giống vi khuẩn bạch hầu, nhưng liên cầu khuẩn chết nhanh chóng hơn ở khô hanh, cho nên cơ chế truyền bệnh bằng bụi không thể thực hiện được như trong bệnh bạch hầu. Trong khi đó, liên cầu có thể sông lâu trong thức ăn, đặc biệt là trong sữa và những thức ăn có đường, cho nên ngoài bệnh tinh hồng nhiệt, chúng có thể gây những đợt bột phát ngộ độc thức ăn. Bệnh sinh và biểu hiện lâm sàng. Tác nhân gây bệnh vào cơ thể ở niêm mạc đường hô hấp trên mũi, họng, amidan, đôi khi qua da, sinh sản ở đó; sau đó ngoại dộc tố xâm nhập vào cơ thể. Thời kỳ ủ bệnh là từ 3-5 ngày, tôi da là 12 ngày. Biểu hiện lâm sàng là sốt, viêm mũi họng và thanh quản, hiện tượng nhiễm độc và hồng ban. Liên cầu khuẩn có thể vào dòng máu để đến sinh sản ở các nội tạng và gây những biến chứng viêm tai có mủ, tổn thương ở tim, viêm thận, nhất là khi bị tái nhiễm hoặc bội nhiễm. Từ lâu người ta đã thấy rằng dịch tinh hồng nhiệt thường kèm theo dịch viêm amidan. Tác nhân gây bệnh được giải phóng dần dần cùng với các mô niêm mạc, da bị rụng ra khỏi cơ thể và quá trình này thường kết thúc khi hết triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên một số người bệnh trở thành người khỏi mang vi khuẩn. Tinh hồng nhiệt chỉ là một biểu hiện lâm sàng của tình trạng nhiễm liên cầu khuẩn. Các biểu hiện lâm sàng khác là viêm da có mủ, viêm quầng, viêm tim, khớp. Nguyên nhân của những hình thái này của nhiễm liên cầu khuẩn là lối vào của vi khuẩn, cấu trúc kháng nguyên, và độc tố của chúng. Có thể nói tinh hồng nhiệt là biểu hiện của sự nhiễm khuẩn ban đầu, còn viêm tim khớp xảy ra ở cơ thể đã có miễn dịch kháng dộc tố và nhạy cảm dối với nhiễm khuẩn. Chẩn đoán bằng xét nghiệm Chẩn đoán bằng xét nghiệm có thể tiến hành bằng cách tách liên cầu khuẩn từ thanh quản hoặc tìm độc tố của vi khuẩn và kháng thể ở trong máu. Nhưng phương pháp chẩn đoán bằng xét nghiệm không được thông dụng, vì liên cầu khuẩn rất phổ biến, thường thấy ở thanh quản những người lành mạnh, và vì không thể nào phân biệt được liên cầu khuẩn gây bệnh scarlatine với những liên cầu khuẩn khác cũng ở người lành mạnh. QUÁ TRÌNH TRUYỀN NHIỄM Nguồn truyền nhiễm Nguồn truyền nhiễm là người bệnh, người khỏi mang vi khuẩn và người lành mang vi khuẩn. Cơ chế truyền nhiễm Bệnh được lây chủ yếu qua không khí bằng giọt nhỏ. Người ta còn thực nhận khả năng truyền nhiễm qua thức ăn như sữa qua các đồ dùng và đồ chơi của người bệnh. Bệnh còn có thể lây qua tay bẩn và qua các dụng cụ y học tinh hồng nhiệt do vết thương, do bỏng, sau khi sinh đẻ. Tính cảm thụ và miễn dịch Mỗi người đều tiếp thụ được bệnh, cho nên tinh hồng nhiệt là bệnh chủ yếu của trẻ em dưới 14 tuổi. Miễn dịch sau khi bị bệnh rất bền lâu. Gần đây, do dùng nhiều kháng sinh, nên thấy có hiện tượng bị mắc bệnh lại. Miễn dịch có tính chất kháng độc tố và kháng vi khuẩn. Theo các quan sán dịch tễ học, miễn dịch trong một số trường hợp, được hình thành chậm, trong vòng nhiều tuần lễ. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ Tinh hồng nhiệt thấy chủ yếu ở trẻ em dưới 12-14 tuổi, tuy cũng có thể xảy ra ở người lớn. Trong tổng số người mắc bệnh tinh hồng nhiệt, trẻ em dưới 7 tuổi chiếm 72,7% trẻ em dưới 14 tuổi chiếm 97%. Tinh hồng nhiệt có tính theo mùa. Mức độ mắc bệnh tăng ở đầu mùa thu khi bắt đầu đi học và giảm trong mùa nghỉ học. Mức dộ mắc bệnh tuỳ thuộc vào mật độ dân chúng, cho nên mức độ mắc bệnh ở nông thôn thấp hơn so vứi ở thành phố. Kết quả là đa số thanh niên ở nông thôn không có miễn dịch, trong khi đó hầu hết trẻ em ở thành phố dưới 12 tuổi đã bị tinh hồng nhiệt và có miễn dịch. Tinh hồng nhiệt có tính chu kỳ. Cứ 3-5 năm lại xảy ra dịch lớn. Tính chu kỳ được điều chỉnh do tác động qua lại giữa miễn dịch của dân chúng và cơ chế truyền nhiễm bằng giọt nhỏ. Thời gian giữa các vụ dịch rất khác nhau tuỳ theo điều kiện sống cụ thể của dân chúng như cường độ của quá trình di cư trong những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai, số trường hợp mắc bệnh trong năm 1943 ở nhiều nước Tây Âu gấp 2-3 lần tổng số các trường hợp mắc bệnh trong suốt 11 năm trước chiến tranh 1928-1938. Trước đây 20-30 năm, tinh hồng nhiệt là một bệnh nặng ở trẻ em, thường kèm theo biến chứng như viêm tai có mủ dẫn tới điếc, viêm thận, suy tim với tỷ lệ tử vong cao 8-12%. Ngày nay, tinh hồng nhiệt trở thành một bệnh nhẹ ở trẻ em tỷ lệ tử vong ở khắp nơi đều ở mức thấp, dưới 0,1%. Việc sử dụng penix- illin chỉ giải thích một phần sự diến biến này, bởi vì tinh hồng nhiệt cũng diễn biến nhẹ ở những người bệnh không điều trị bằng kháng sinh. Rất có thể là do tính sinh độc tố của tác nhân gây bệnh bị giảm, hoặc do từ thế hệ này qua thế hệ khác, sức đề kháng của dân chúng đối với tinh hồng nhiệt đã tăng lên. BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỐNG DỊCH Biện pháp chống dịch Chống bệnh tinh hồng nhiệt là một việc rất phức tạp. Vì tác nhân gây bệnh đến nay vẫn chưa được xác định. Các thể bệnh nhẹ làm cho việc chẩn đoán bệnh và việc phòng chống dịch càng thêm khó khăn. Các biện pháp chông dịch chỉ nhằm mục đích giảm tỷ lệ tử vung và ngăn ngừa các biến chứng. Tinh hồng nhiệt là một bệnh bắt buộc phải khai báo. Người bệnh có thể cách ly ở nhà hoặc ở bệnh viện tuỳ theo các chỉ định lâm sàng và chỉ định dịch tễ học, như trong bệnh sởi. cần phải đưa vào bệnh viện, các trẻ em nhỏ dưới 2 tuổi vì ở lứa tuổi này, tỷ lệ tử vong cao nhất và những người bệnh sống trong điều kiện vệ sinh thấp kém. Phải đưa người bệnh vào bệnh viện để đề phòng tái nhiễm và biến chứng bởi liên cầu khuẩn. Người bệnh có thể ra viện từ ngày thứ bảy đến ngày thứ mười hai nếu khỏi về lâm sàng; thậm chí có thể sớm hơn từ ngày thứ năm nếu điều trị bằng penix- illin. Tuy nhiên, những trẻ em dưới 12 tuổi và những người lớn làm việc ở các nhà trẻ, mẫu giáo, lớp 1 và lớp 2, chỉ được phép đi làm việc hoặc đến trường sau thời gian cách ly 12 ngày ở nhà, vì không thể xác định được là họ còn mang vi khuẩn hay không. Ở ổ bệnh không phải tẩy uế cuối cùng, chỉ cần lau rửa sàn nhà, các đồ dùng và làm thoáng khí buồng bệnh. Trong khi người bệnh còn nằm điều trị cũng làm thoáng khí buồng bệnh bằng cách chiếu tia cực tím. Nên tiến hành tẩy uế thường xuyên các đồ dùng hàng ngày và đồ đạc trong phòng bằng dung dịch cloramin 1%. Những người chăm sóc người bệnh phải đeo khẩu trang bằng gạc Trong ổ dịch, những trẻ em tiếp xúc với người bệnh phải cách ly trong 7 ngày, kể từ ngày cách ly người bệnh và tiến hành tẩy uế cuối cùng. Nên tiêm gamma-globulin cho những trẻ em đó. Phòng bệnh đặc hiệu Người ta chưa chế dược vacxin đặc hiệu. Những vacxin chế bằng liên cầu khuẩn chết hoặc bằng độc tố của chúng, hoặc bằng cả vi khuẩn và độc tố đều chỉ cho kết quả hạn chế và cần phải tiêm 3-5 lần. Việc sử dụng liều lượng kháng nguyên cao đã gây ra phản ứng mạnh, không khác nhiễm khuẩn liên cầu khuẩn mấy. Nhưng cố gắng chế một giải độc tố ít dộc hơn cũng thất bại. Như vậy việc tạo miễn dịch chủ động trong tinh hồng nhiệt còn là một vấn đề phải giải quyết. Việc dùng gamma-globulin để tạo miễn dịch thụ động cũng cho kết quả hạn chế.
Sức khỏeTư vấn Thứ bảy, 18/10/2003, 1347 GMT+7 Sau một đợt viêm họng, cháu tôi bị nổi ban đỏ khắp người. Đi khám, bác sĩ chẩn đoán cháu bị bệnh tinh hồng nhiệt. Bệnh này có để lại di chứng gì không? Bệnh tinh hồng nhiệt là một bệnh nhiễm trùng cấp tính của amiđan hay nhiễm trùng da, thường gặp ở trẻ em, do liên cầu tan huyết nhóm A, đôi khi do tụ cầu vàng gây ra. Thường sau 2-3 ngày bị bệnh nhiễm trùng ở họng hay ở trên da thì bệnh nhân có biểu hiện phát ban. Các ban đỏ nhạt hoặc đỏ tươi xuất hiện ở phía trên thân thể trước sau đó lan ra tay chân. Ban đỏ có cả ở trên mặt, nhưng xung quanh miệng thì có quầng trắng. Lúc đầu các ban nhỏ lấm tấm, sau đó lan rộng và liên kết với nhau thành mảng lớn. Có cả các đốm xuất huyết lấm tấm hoặc thành hình dải ở các nếp gấp cơ thể. Mức độ phát ban tùy từng trường hợp, có một số trường hợp chỉ có các ban đỏ lấm tấm với một số mảng lớn, nhưng một số trường hợp thì ban đỏ lan khắp toàn thân. Bệnh nhân thường bị ngứa. Các ban nhạt dần sau 4-5 ngày và có thể bong vảy nhỏ như bụi phấn, bụi cám ở thân mình, bong vảy lớn thành lá ở lòng bàn tay, bàn chân. Một số bệnh nhân có tổn thương nhẹ, thoáng qua, nên bệnh nhân không để ý, chỉ khi có biểu hiện bong vảy thì mới lưu tâm đi khám. Tổn thương còn ở cả niêm mạc. Thanh quản đỏ. Lưỡi lúc đầu trắng với các gai lưỡi sưng phù và đỏ, sau đó lưỡi cũng bị đỏ. Ngày thứ 4-5 thì lưỡi có thể xuất hiện các mảng dày sừng và đỏ. Vòm miệng có thể có ban đỏ và các chấm xuất huyết. Khám thì có biểu hiện của viêm amiđan cấp. Hạch trước cổ có thể sưng to. Thực chất của bệnh là do nhiễm trùng họng ở đa số các trường hợp và vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gây đỏ da. Nếu ngoại độc tố được tiết ra nhiều mà không điều trị kịp thời thì có thể gây viêm khớp cấp, viêm cầu thận cấp, hồng ban nút... Về điều trị, bệnh nhân nên được nghỉ ngơi, dùng một đợt kháng sinh đủ liều, đủ thời gian thì kết quả sẽ rất tốt. Bệnh khỏi ở hầu hết các trường hợp và không để lại biến chứng. TS Nguyễn Thị Lai, Khoa học & Đời sống
bệnh tinh hồng nhiệt