VOICE Australia 28/9/2022: Hai thuyền nhân Việt tỵ nạn cuối cùng trong số 20 người đă bay từ Jakarta hôm qua để định cư ở Canada qua sự bảo trợ của gia đình hảo tâm cùng tổ chức VOICE Canada. Họ là 2 chị em cô Nhung. Năm 2015, chiếc thuyền đầu tiên vượt biển […] Kiếp Nạn Cuối Cùng Của Thầy Trò Đường Tăng - Tây D Bí kíp giữ lửa mái ấm của phụ nữ hiện đại; Dân mạng sốc với bài văn tả bạn gái 'ngon, điện nư Hướng đẫn làm bánh mochi kiểu Nhật ngon tuyệt dịp Hướng dẫn làm lồng đèn đón tết Trung Thu Tây Du Ký (Trọn Bộ 2 Tập) PRC/EPUB/PDF. Ebook Tây Du Ký (Trọn Bộ 2 Tập) đã không còn được cung cấp vì các lí do bản quyền. Nhưng bạn vẫn có thể mua Tây Du Ký (Trọn Bộ 2 Tập) với giá rẻ nhất bằng cách click vào liên kết bên dưới. Link Sách #1. Link Sách #2. 17. Lần gặp gỡ cuối cùng 18. Thầy ở cùng anh em 19. Biệt ly hay hội ngộ? - An Phong 20. Quê hương chúng ta ở trên trời - An Phong 21. Suy niệm của Lm. Dom. Trần Quang Hiền SDB 22. Khai mở trang sử mới của Giáo hội 23. Thầy ở cùng anh em mọi ngày 24. Chúa trong cuộc sống May 20, 2020 · THÀNH CÔNG THEO CÁCH CỦA BẠN Bốn thầy trò Đường Tăng sau khi trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng thỉnh được chân kinh về! sau khi về tới đại Đường, Lý Thế Dân đãi tiệc mừng cho 4 thầy trò. Lý Thế Dân hỏi Đường Tăng : Thầy nhờ cái gì dẫn đến sự thành công hôm nay? … See more 1 Và không ngờ quả đất nhỏ bé thật, Hạnh Lan lại là em của thầy Nhuận, một vị thầy trẻ trung và rất gần với tuổi trẻ của bọn tôi ở Hội An trong hai, ba năm vừa qua. bên kia". Vượt qua một thời khổ nạn, vượt qua một kiếp nhân sinh trên chiếc bè do chính bàn tay cj9w39. Trang chủ Giải trí Top phim hay nhất Thứ Năm, ngày 28/11/2013 0005 AM GMT+7 Sau khi trở về từ đất Phật, thầy trò Đường Tăng đã bị lão rùa quở trách hắt xuống sông, cả bốn cùng ngụp lặn vớt kinh và được bài học nhớ đời từ kiếp nạn thứ 81. Tập 25 - Đến miền cực lạc có phân cảnh thầy trò Đường Tăng qua sông Thông Thiên và được sự trợ giúp của lão rùa. Đoàn phim gặp không ít khó khăn khi thực hiện bên cạnh bờ một con sông nước chảy siết và lòng sông sâu. Thời gian này, êkip Tây Du Ký vừa từ Cửu Trại Câu trở lại Đô Giang Yển, sau đó tới thượng dư dòng Mân Giang ở ngoại ô Đô Giang Yển. Đây cũng chính là địa điểm quay phân cảnh thầy trò Đường Tăng bị lão rùa hắt xuống sông vì lỡ thất hứa chuyển lời thỉnh cầu của nó tới đức Phật Tổ Như Lai, lý do vì sao tu luyện ngàn năm mà chưa thành chính quả. Thầy trò Đường Tăng đắc đạo trở về. Cùng vượt qua cửa ải cuối cùng với kiếp nạn thứ 81 trên lưng lão rùa. Trong phân cảnh trên, đạo cụ con rùa già mà bốn thầy trò cùng cưỡi đã được tổ mỹ thuật kỳ công chuẩn bị từ khi ở Bắc Kinh, được coi như một "kiệt tác" tốn khá nhiều thời gian và công sức của mọi người. Mô hình lão rùa đòi hỏi không những tứ chi phải hoạt động một cách linh hoạt, bộ phận đầu và đuôi cũng có thể cử động như thật. Ngoài ra, lão rùa còn có thể "chở" cả bốn thầy trò trên lưng. ngoài tổ mỹ thuật, tổ kỹ xảo cũng trợ giúp bằng cách cố định một tấm gỗ lớn dưới bụng mô hình lão rùa, sau đó dùng một sợi dây cáp nhỏ để điều khiển hoạt động. Để cho cảnh quay thầy trò Đường Tăng vớt kinh thực sự sống động và chân thực, đạo diễn Dương Khiết đã yêu cầu thực hiện ngay tại một bờ sông thật, thay vì thực hiện trong trường quay như trước đó dự trù. Trong khi đó, cảnh 4 thầy trò cùng đứng trên lưng rùa và vượt sông lại được ghi hình ở trường quay trong nhà, tại Nhà hát Quân đội Bắc Kinh. Vì không thể để cả bốn diễn viên cùng đứng trên lưng rùa mô hình, tổ kỹ thuật sẽ ghép hình các nhân vật trong khâu hậu kỳ. Cảnh quay thực trên dòng Mân Giang, cả bốn diễn viên cùng ngồi trên lưng rùa. Trước quyết định trên, đoàn Tây Du Ký đã chọn một bãi phù sa phẳng cạnh bờ sông Mân Giang. Ban đầu, một vài nhân viên tiến hành đo độ nông sâu của lòng sông, nơi được chỉ định thực hiện quay phân cảnh thầy trò Đường Tăng bị ngã sông. Tiếp đó sẽ quây vùng chỉ định nơi an toàn để quay. Khi thực hiện cảnh quay trên, một tổ nhân viên sẽ túc trực bơi quanh khu vực sông chỉ định quay, trong khi bốn diễn viên thầy trò Đường Tăng bơi từ trong ra khu vực chỉ định an toàn. Lúc này, Trì Trọng Thụy, Mã Đức Hoa và Diêm Hoài Lễ lần lượt lội xuống trước còn Lục Tiểu Linh Đồng nhảy từ một chiếc thang xuống. Cảnh này, thầy trò Đường Tăng cuống quýt vớt kinh kệ bị vương vãi sau khi bị lão rùa hất xuống sông. Cả bốn đều vướng víu với phục trang hết sức rườm rà, đặc biệt là áo cà sa sau khi trở về từ đất Phật. Quần áo chỉnh tề, vật dụng hóa trang rườm rà nên khi xuống nước khá vất vả. Miếng bụng cao su của Trư Bát Giới ngậm no nước liền trương phềnh lên, nhìn không khác một phụ nữ mang bầu. Vì nước vào quá nhiều càng khiến sức nặng của chiếc bụng thêm tăng, khiến Mã Đức Hoa chới với với không thể cử động nổi. Ba diễn viên còn lại cũng lặn ngụp trong nước và xoay xở khá vất vả nhưng đều không bơi được vào bờ. Cả bốn người ai nấy ướt như chuột lột. Cảnh bốn thầy trò được lão rùa trở qua sông và vật lộn trên dòng nước trong đoạn cuối tập 25. Khi diễn dưới nước, hành động càng trở nên lóng ngóng, không như ý muốn. Những Thiên Bồng Nguyên Soái, Quyển Liêm đại tướng hay Tề Thiên Đại Thánh vốn thần thông quảng đại là vậy, giờ cũng nhấp nhô vật lộn với làn nước một cách vất vả. Khi cả bốn diễn viên lên được đến bờ, không ai còn nhận ra những Ngộ Không với Bát Giới, bởi phần mặt nạ của những "anh khỉ" với "anh lợn" đều ngậm nước trở nên mềm nhũn và bong ra. Trong khi đó, râu tóc của Sa Tăng cũng xộc xệch và rối tung. Theo Long Hy Nhắc đến Đường Tăng, rất nhiều người liên tưởng đến vị Thánh tăng trong “Tây Du Ký” – bộ tiểu thuyết trường thiên viết theo thể chương hồi do Ngô Thừa Ân sáng tác vào thời nhà Minh. Trong truyện kể rằng, Đường Tăng là đệ tử thứ hai của Phật Tổ, là La Hán Kim Thiền Tử chuyển sinh tại thế gian. Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng Kim Thiền Tử lại là tên gọi hư cấu, hơn nữa trong các đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không có ai mang danh này. Vậy vì sao trong truyện lại viết rằng kiếp trước của Đường Tăng là Kim Thiền Tử? Nguyên mẫu của Đường Tăng là Pháp sư Huyền Trang thời nhà Đường. Mặc dù Ngô Thừa Ân lấy cảm hứng từ hành trình thỉnh kinh có thật trong lịch sử, nhưng những miêu tả về Đường Tăng trong tiểu thuyết lại là sáng tác riêng của tác giả. Vì vậy, hậu nhân không nên lầm tưởng “Tây Du Ký” là tác phẩm lịch sử, phản ánh chân thật về sự thực lịch sử. Dưới đây là đôi lời thảo luận Vì sao Đường Tăng trong tiểu thuyết lại được gọi là Kim Thiền Tử? Trong “Tây Du Ký”, không ít lần Ngô Thừa Ân kể rằng Đường Tam Tạng là do La Hán Kim Thiền Tử chuyển sinh. Ví dụ như trong hồi thứ 12, khi sang Đông Thổ tìm người đi lấy kinh, Bồ Tát đã nói với đệ tử Mộc Soa “Hôm nay là ngày hội chính của “Đại hội Thủy lục”, lấy một số 7 nối tiếp bảy số 7, đúng đấy. Ta và con hãy đi lẫn vào trong đám dân chúng đến dự lễ, một là xem hội ấy như thế nào, hai là xem Kim Thiền Tử có phúc đáng được mặc bảo bối của ta không, ba là xem họ giảng kinh gì”. Hồi thứ 24 kể về cố sự nhân sâm quả. Lúc ấy, bốn thầy trò đi qua núi Vạn Thọ, nơi có Ngũ Trang quán của Trấn Nguyên Đại Tiên. Trấn Nguyên Tử biết rằng thầy trò Đường Tăng sẽ vào trong quán xin nghỉ nhờ, nhưng ngặt nỗi lại nhận được tờ thiếp của Nguyên Thủy Thiên Tôn, mời đến cung Di La trên Thượng Thanh Thiên để giảng về “Hỗn nguyên đạo quả”. Trấn Nguyên Tử dẫn theo 46 vị đệ tử, chỉ để lại hai đệ tử là Thanh Phong và Minh Nguyệt ở nhà. Trấn Nguyên Đại Tiên căn dặn hai đồ đệ rằng “Sắp tới, có một cố nhân của ta đi qua đây, hai con phải tiếp đón nồng hậu, mang hai quả nhân sâm ra mời ngài ăn, để tỏ chút tình cố cựu”. “Sắp tới, có một cố nhân của ta đi qua đây, hai con phải tiếp đón nồng hậu, mang hai quả nhân sâm ra mời ngài xơi, để tỏ chút tình cố cựu.” Ảnh NTDTV Thanh Phong và Minh Nguyệt nghe nói cố nhân của sư phụ là hòa thượng đến Tây Thiên cầu kinh, bèn hỏi lại “Khổng Tử có nói “Đạo bất đồng, bất tương vi mưu” Đạo khác nhau, không quan hệ với nhau. Chúng ta thuộc Thái Ất Huyền Môn, sao sư phụ lại quen biết vị hòa thượng đó?”. Trấn Nguyên Tử trả lời “Các con không biết đó thôi, vị hòa thượng đó vốn là Kim Thiền Tử thác sinh, đồ đệ thứ hai của Tây phương Thánh lão là đức Phật Như Lai. 500 năm trước, ta với ngài ấy có quen biết nhau ở “Hội Lan Bồn”. Ngài đã từng tự tay mời trà ta, kính trọng ta, từ đấy ta coi như bạn cũ”. Đến hồi thứ 27, bốn thầy trò tạm biệt Trấn Nguyên Đại Tiên và rời khỏi Ngũ Trang quán, tiếp tục hành trình sang phương Tây. Chẳng mấy chốc, trước mặt hiện ra một ngọn núi cao. Trong truyện viết “Lại nói chuyện người ta thường có câu Non cao lắm quái, núi hiểm nhiều ma’, đúng như vậy. Núi này có một con yêu tinh. Khi Hành Giả ra đi, làm kinh động con yêu quái. Trên tầng mây, đạp luồng gió âm, hắn nhìn thấy Đường Tăng đang ngồi dưới đất, xiết bao mừng rỡ nói May quá! May quá! Mấy năm nay mọi người thường nói về lão hòa thượng nhà Đường bên phương Đông đi lấy kinh “Đại Thừa”. Lão vốn là Kim Thiền Tử hóa thân, tu hành mười đời, ăn được một miếng thịt của lão sẽ sống lâu mãi mãi. Hôm nay lão đến đây rồi!’”. Sau khi đã vượt qua trùng trùng ma nạn, cuối cùng thầy trò Đường Tăng cũng đến Tây Thiên đất Phật. Như Lai nói với Tam Tạng rằng “Này Thánh tăng, kiếp trước nhà ngươi là đồ đệ thứ hai của ta, tên gọi Kim Thiền Tử. Chính vì nhà ngươi không chịu nghe thuyết Pháp, coi thường đạo giáo của ta, nên ta đày linh hồn nhà ngươi xuống cõi phương Đông. Nay mừng nhà ngươi đã quy y, giữ đạo Sa Môn, tuân theo giáo lý của ta, đi thỉnh chân kinh có nhiều công quả, vậy ta gia phong cho chính quả chức to là Chiên Đàn Công Đức Phật”. Câu nói trên đã nói rõ Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đệ tử thứ hai của Đức Phật Thích Ca, vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống trần thế, phải trải qua quá trình tu luyện nơi nhân thế mới có thể chứng đắc Phật quả. Nhưng trong lịch sử, đệ tử thứ hai của Đức Phật Thích Ca lại là Mục Kiền Liên, hơn nữa trong số các đệ tử còn lại cũng không có ai tên là Kim Thiền Tử. Vậy Kim Thiền Tử là ai, và vì sao lại gọi Đường Tăng là Kim Thiền Tử? Vì sao Đường Tăng là Kim Thiền Tử? Nhìn nhận từ chữ Hán, Kim Thiền Tử là “金蟬子”. Chữ “Thiền” 蟬 nghĩa là con ve sầu, đồng âm với chữ “Thiền” 禪 trong thiền định, tọa thiền. Chữ “Kim” 金 trong ngũ hành thuộc về Tây. Do đó, “Kim Thiền” rất có thể ngụ ý Thiền tông truyền dạy từ phương Tây. “Kim” cũng là Kim Cang, giống như kim cương trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, cho thấy xuất thân cao quý, có thể phá hết thảy chướng ngại và phiền não. Còn chữ “Tử” 子 là tôn xưng của các bậc Thánh nhân có thành tựu nổi bật, như Khổng Tử, Lão Tử, Quảng Thành Tử, Thiền Tử là “金蟬子”. Chữ “Thiền” 蟬 nghĩa là con ve sầu, đồng âm với chữ “Thiền” 禪 trong thiền định, tọa thiền. Chữ “Kim” 金 trong ngũ hành thuộc về Tây. Ảnh ntdtv Từ đó có thể thấy, tên gọi “Kim Thiền Tử” đã tiết lộ Đường Tăng là hóa thân và truyền nhân của Thiền môn. Thiền tông bắt đầu từ sơ tổ Đạt Ma truyền nhập vào Trung Quốc từ thời Nam Bắc triều. Năm xưa trong Pháp hội Linh Sơn, Đức Phật Thích Ca cầm hoa, đệ tử Ca Diếp vừa nhìn thấy liền mỉm cười, tiếp thụ tâm pháp của Thiền. Từ đó trải qua lịch sử hai mươi mấy đời nối tiếp nhau truyền lại, sau đó được Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền nhập vào Trung Thổ, sáng lập Thiền tông tại Tung Sơn. Cuối cùng đến thời Lục tổ Huệ Năng thì Thiền tông phát triển rực rỡ, trở thành tông phái Phật giáo lớn nhất tại Trung Quốc. Nhìn nhận từ một góc độ khác, hai chữ “Kim Thiền” 金蟬 nghĩa là con ve sầu, tên gọi Kim Thiền Tử là mượn ý trong câu “Kim thiền thoát xác” ve sầu lột xác. Hành trình sang Tây Thiên thỉnh kinh của Đường Tăng cũng giống như quá trình tu tâm của một người tu luyện. Là người tu luyện thì cần phải tẩy tịnh thân tâm, đề cao tầng thứ, khi đạt đến cảnh giới viên mãn đắc Đạo thì cũng là lúc trút khỏi xác phàm, đắc được Phật thân. Đó chính là ý nghĩa của cái tên “Kim Thiền Tử”, cũng là chính là đích đến của hành trình sang Tây Thiên của Đường Tăng. Đánh giá nhân vật Trong lịch sử, Pháp sư Huyền Trang đã phải trải qua vô vàn khổ nạn mới đến được đất Phật, thỉnh được Tam Tạng chân kinh. Sau khi thỉnh kinh, ông lại dành nhiều năm dày công nghiên cứu và phiên dịch, mở ra bước ngoặt mới cho quá trình Hán hóa các kinh điển Phật giáo, giúp Phật giáo trở thành quốc giáo của Trung Quốc sau này. Pháp sư Huyền Trang có công lao vô cùng to lớn giúp Phật giáo phát triển rực rỡ và hồng truyền ở phương Đông. Huyền thoại về ông không chỉ được dân gian truyền tụng, mà ngay cả Hoàng đế Đường Thái Tông cũng đích thân viết bài văn “Đại Đường Tam Tạng thánh giáo tự” để ngợi ca ông. Trong bài văn này, Đường Thái Tông ca ngợi Huyền Trang là “Tùng phong thủy nguyệt, vị túc bỉ kỳ thanh hoa; Tiên lộ minh châu, cự năng phương kỳ lãng nhuận” Gió tùng trăng nước, chưa đủ ví thanh hoa; Tiên lộ minh châu, khó so bằng tư chất. Trong bài có đoạn “Nay pháp sư Huyền Trang là lãnh tụ thiền môn. Nhỏ đà linh mẫn, tâm tam không sớm tỉnh ngộ từ xưa; lớn lại thần tình, tánh tứ nhẫn trước bao hàm đủ cả. … Vậy nên, lòng trông Tịnh độ, thân đến cõi Tây, mạo hiểm nghìn trùng, xông pha chiếc bóng. Ban mai tuyết phủ, đất mất đuờng đi; chiều xế, cát bay, trời mờ lối tới. Muôn dặm non sông, vén mây mù mà tiến bước; trăm tầng nắng rét, đạp sương tuyết để lên đuờng. Nặng lòng thành coi nhẹ gian lao, mạnh chí quyết sở cầu nguyện đạt. Chu du Tây vực muời lẻ bảy năm, trải khắp đạo trường tham cầu chánh giáo. Song lâm với bát thủy, suy nếm mùi thiền; Lộc Uyển và Thứu Phong, thánh cảnh qua hết. Vâng chí ngôn của đấng thiên thánh, lĩnh chân giáo với bậc thượng hiền. Tìm thấu diệu môn, tin cùng áo nghĩa. Đạo nhất thừa cùng năm luật bộ, đầy khắp tâm điền; văn bát tạng với ba hòm kinh, dập dồn khẩu hải”. Một ngày, Đường Cao Tông nhận được tin Pháp sư Huyền Trang bệnh nặng, hoàng đế lập tức phái các danh y tài giỏi nhất trong cung đến chữa trị. Sau khi Huyền Trang viên tịch, Cao Tông vô cùng tiếc thương, đã nhiều lần than thở rằng “Trẫm đã mất đi quốc bảo rồi…” Minh HạnhTheo Ngung Tâm – Secretchina Link bài dịch Epoch Times Tiếng Việt Tây Du Ký là tác phẩm nổi tiếng của Ngô Thừa Ân gồm 100 hồi, ghi lại hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp, dọc đường đi đã hàng ma phục yêu trải qua 81 kiếp nạn, cuối cùng thành chính quả. Tây Du Ký xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, tất cả tình tiết, nhân vật lời thoại đều mang nội hàm sâu sắc. Do vậy, tác phẩm xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ Đông Tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. Chuyên mục Học tiếng Anh xin giới thiệu loạt bài học qua tác phẩm Tây Du Ký, không chỉ cung cấp những từ vựng trọng điểm mà còn hy vọng sẽ mang cho quý độc giả đến nguồn cảm hứng mới khi học ngoại ngữ. *** Trong bài học ngày hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu câu chuyện “Đường Tăng phụng mệnh vua Đường đi thỉnh kinh”. When Tang Monk received an order from the Emperor and was getting ready to depart, many monks tried to persuade him not to go. Tang Monk Đường Tăng Emperor Hoàng đế try to V cố gắng làm gì Khi Đường Tăng nhận được chiếu chỉ từ vua Đường và sẵn sàng lên đường rất nhiều nhà sư cố gắng khuyên nhủ ông không nên đi. Tang monk possessed high inborn quality such that interference would not have any effect on him. He thus went on his pilgrimage for scriptures. effect on ảnh hưởng, tác động đến pilgrimage for scriptures hành trình thỉnh kinh Đường Tăng là người đại căn cơ nên can nhiễu như thế không có tác dụng gì với ông. Vì thế ông lên đường đi thỉnh kinh. Đường Tăng kiên định đi lấy kinh Ảnh He brought two ordinary persons as his entourage. They were eaten by demons at the very beginning. Because of his inborn quality, he escaped and was rescued by a God. ordinary person người thường because of + N bởi vì Đường Tăng xuất hành mang theo hai tùy tùng. Họ bị yêu quái ăn thịt ngay lúc vừa khởi hành. Nhờ “bản tính viên minh” của Đường Tăng, ông tránh khỏi bị hại và được Thần cứu giúp. A cultivator will encounter tests from the very beginning of cultivation. First of all, one must be persistent. When a cultivator possesses steadfast belief, he will have God’s help when he encounters demons. Một người tu luyện sẽ gặp phải khảo nghiệm ngay từ bước đầu trong tu luyện. Khi một người tu có lòng thành tín kiên định, người đó sẽ được Thần giúp đỡ khi gặp yêu ma. Video tóm tắt nội dung bài học Trúc Mai Tổng hợp Trên đường đi thỉnh kinh, cái tâm mà Đường Tăng hiển lộ rõ ràng nhất chính là tâm sợ hãi và tâm lo nghĩ. Càng không trừ bỏ chúng đi, thì càng có nhiều yêu ma muốn ăn thịt ông, quấy nhiễu ông… Một ngày kia, khi Đường Tăng trông thấy có một ngọn núi cao cản đường, lại sợ có yêu quái. Ngộ Không thấy nơi này đã gần Tây Thiên, nên để Đường Tăng yên tâm đã nói rằng ở đây đã gần với đất Phật, tuyệt đối không có yêu quái. Nhưng Đường Tăng vẫn thấy lo lắng, Ngộ Không bèn hỏi xem ông còn nhớ “tâm kinh” không, Đường Tăng nói rằng vẫn chưa quên. Ngộ Không nói rằng vậy thì cứ niệm, không việc gì là không giải được. Pháp lý ở tầng thứ cao thì không có cách nào dùng ngôn ngữ mà nói xuất lai được, nhưng có thể thấy rằng nếu thuộc kinh văn rồi thì có thể thật sự chiểu theo yêu cầu Pháp lý mà làm. Dọc đường có Khấu viên ngoại, thích hành thiện cúng dường chúng tăng, phát nguyện cúng dường cho một vạn tăng nhân. Vừa khéo lại gặp ngay bốn thầy trò đến nơi, vừa tròn một vạn, viên ngoại ân cần khoản đãi. Bởi Bát Giới trước sau không thể tu bỏ đi cái tâm tham ăn, thấy viên ngoại hào sảng phóng khoáng, ăn rồi không muốn đi nữa. Lòng lấy kinh của những người khác đều đặt ở Linh Sơn, chỉ mong được sớm ngày lên đường. Bởi Bát Giới trước sau không thể tu bỏ đi cái tâm tham ăn, thấy viên ngoại hào sảng phóng khoáng, ăn rồi không muốn đi nữa. Lòng lấy kinh của những người khác đều đặt ở Linh Sơn, chỉ mong được sớm ngày lên đường. Ảnh Cuối cùng, Đường Tăng “mắng” Bát Giới lên đường, viên ngoại lấy thanh thế phô trương xa xỉ tiễn biệt thầy trò Đường Tăng. Kết quả, khiến cho lũ cướp trông thấy liền nổi lòng tham, trong đêm đến nhà Khấu viên ngoại cướp bóc, đánh chết viên ngoại, vợ của viên ngoại tức quá hóa giận, vu oan hãm hại bốn thầy trò Đường Tăng là hung thủ. Lần bị oan này, Ngộ Không vốn đã biết trước, đây là kiếp nạn Đường Tăng vốn nên gặp phải. Nhưng có lẽ nhiều người sẽ tỏ ra nghi ngờ thiên lý thiện hữu thiện báo, cho rằng Khấu viên ngoại cả một đời đã cúng dường cho một vạn tăng nhân, cớ sao lại gặp phải chuyện bất trắc như vậy? Thật ra, những việc thiện lành của Khấu viên ngoại đã cải biến vận mệnh của ông, con người chính là nên phải chịu khổ trong mê và luân hồi. Giả sử nếu viên ngoại không có tấm lòng kính Phật, cúng dường chúng tăng, thế thì vận mệnh của ông có lẽ là sau trăm tuổi tiếp tục chuyển sinh trong nghiệp lực luân báo. Nhưng thiện niệm thiện hành của ông khiến cho tai kiếp mà ông vốn gặp phải trong đời đã đến trước, giúp ông sớm có được một nơi đến tốt đẹp làm án trưởng trông coi sổ thiện ác cho Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đồng thời, Đường Tam Tạng có tâm chấp vào đồ vật, quá ư xem nặng chiếc cà sa Cẩm Lan. Ngộ Không mượn cơ hội này, vừa để khiến Đường Tăng buông bỏ cái tâm này, lại vừa để cho quan phủ nhìn thấy vật này, biết thân phận của người lấy kinh không hề tầm thường, chuẩn bị xong xuôi cho việc sửa lại án oan. Cuối cùng, viên ngoại hoàn dương, oan khuất được hóa giải, lại đã chứng thực thiên lý thiện ác hữu báo, thầy trò bốn người cũng đã được lên đường. Oan khuất được hóa giải, lại đã chứng thực thiên lý thiện ác hữu báo, thầy trò bốn người cũng đã được lên đường. Ảnh Kinh sách thiếu trang, được Ngộ Không điểm ngộ Về sau đã đến Tây Thiên, Tiếp Dẫn Phật chèo chiếc thuyền không đáy tiếp độ mọi người. Lần khảo nghiệm này Ngộ Không giúp Đường Tăng trừ bỏ đi chấp trước sinh tử, thoát khỏi nhục thân, thay da đổi thịt. Chấp trước đối với bộ áo cà sa Cẩm Lan tượng trưng cho việc dùng quan niệm và tình cảm của con người đối đãi với đấng Giác Giả. Chấp trước đối với chiếc bình bát Tử Kim, vật báu mà Đường Thái Tông tặng Đường Tăng trước lúc lên đường, sau này A Nan và Ca Diếp đòi cái bát rồi mới cấp chân kinh độc giả vẫn nhầm tưởng đây là chuyện “nhận hối lộ”, đây chính là tượng trưng cho cái tình “trung với vua” trong cõi người thường này. Đương nhiên, người bình thường thì chính là nên có những luân lý quan niệm đạo đức như vậy, nhưng đã làm người tu luyện thì không thể chấp vào nó. Cộng thêm chân kinh khó đắc được, vì để cho người ta biết được sự trân quý của chân kinh, cũng là vì để trừ bỏ chấp trước của Đường Tăng đối với đồ vật, lại để cho ông gặp phải một nạn kinh sách không có chữ, cuối cùng mới đắc được chân kinh. Đáng lý ra đã được viên mãn, Quan Âm Bồ Tát tra lại phát hiện còn thiếu một nạn, thế là lại phải bổ sung vào, để cho bốn thầy trò Đường Tăng gặp nạn rơi xuống nước. Trong lúc phơi khô kinh sách, có vài trang bị rách mất. Trong lúc Đường Tăng đang tiếc nuối, thì Ngộ Không đã điểm ngộ ông rằng “ Ấy là tại Trời Đất bất toàn. Bộ kinh này vốn không đầy đủ, nay dính rách, âu cũng là một điều huyền diệu ứng với sự không trọn vẹn đó thôi. Sức người làm sao giữ được!” . Trong lúc Đường Tăng đang tiếc nuối, thì Ngộ Không đã điểm ngộ ông. Ảnh Nạn cuối cùng này nhìn vào thì thấy như Bồ Tát, Như Lai sắp xếp bù lại thiếu sót lúc đầu. Điều này nói lên rằng, thật ra mọi việc đều nằm trong tầm tay của Đại Giác Giả. Lúc này, tâm tính của bốn thầy trò đều đã đạt đến tiêu chuẩn cao nhất mà họ có thể tu đến được, chỉ là ở thế gian vẫn còn có sự tình chưa hoàn tất Đó chính là mang chân kinh về đến Đông Thổ Đại Đường. Lúc này, chấp trước ăn uống của Trư Bát Giới cũng đã không còn mạnh như xưa, Ngộ Không cũng đã khiêm tốn, thu lại tính khí của mình, hiểu biết lễ nghĩa hơn trước rất nhiều. Tâm tính quyết định đến thành quả tu luyện Sau khi hoàn tất việc đưa chân kinh về Đông Thổ, cũng là lúc bốn thầy trò Đường Tăng quy vị. Dựa theo tâm tính cao thấp của mỗi người mà nhận được quả vị khác nhau. Đường Tăng được phong là Chiên Đàn Công Đức Phật, Ngộ Không là Đấu Chiến Thắng Phật, Sa Tăng là Kim Thân La Hán, Long Mã là Bát Bộ Thiên Long, Bát Giới được phong là Tịnh Đàn Sứ Giả. Ngộ Không trong suốt toàn bộ quá trình tu luyện, ngộ tính đều rất cao, còn Huyền Trang rõ ràng thua kém hơn rất nhiều, nhưng vì sao cuối cùng cả hai đều đắc được quả vị như nhau? Kỳ thực là bởi tu luyện của Ngộ Không gần như không tồn tại vấn đề của mê, chuyện gì liếc qua đều hiểu được ngay. Còn Huyền Trang thì căn cơ rất tốt, bản thân rất có lai lịch, nhưng ông mê mờ rất sâu, thực tế cũng là rất khổ. Cái gì cũng đều nhìn không thấy, nghe không thấy, cũng đều không biết, chỉ có thể nhất mực tu bản thân mình. Loại tâm tính biểu hiện ra trong cõi mê lạc này đã không còn thấp nữa rồi, phải chịu rất nhiều khổ, vậy nên sau khi viên mãn, quả vị lại đắc được rất cao. Sau khi hoàn tất việc đưa chân kinh về Đông Thổ, cũng là lúc bốn thầy trò Đường Tăng quy vị. Dựa theo tâm tính cao thấp của mỗi người mà nhận được quả vị khác nhau. Ảnh Sa Tăng thì căn cơ ngộ tính có hạn, nhưng lại kiên định tu luyện, không oán trách cũng không hối hận, tâm tính tu trì không hời hợt chút nào, cuối cùng đã đắc được La Hán Chính Quả. Bạch Long Mã trên suốt chặng đường tuy là vất vả, nhưng lại gần như không có tu luyện trên phương diện tâm tính, chính là giống như người tu luyện trong núi sâu rừng già dựa vào chịu khổ mà tăng công vậy, tu luyện chậm, mà tu cũng không được cao, cuối cùng không thoát khỏi Tam giới. Còn Bát Giới thì có cơ hội tu luyện tâm tính, nhưng bởi bản tính quá u mê muội, tâm sắc, tâm đố kỵ trước sau vẫn không trừ bỏ được, không đắc được Chính Quả cũng là điều dễ hiểu. Đến đây, tu luyện của mỗi người đã kết thúc. Trên suốt chặng đường đã hóa giải rất nhiều những ân oán sâu xa, diệt trừ vô số yêu ma quỷ quái hại người, trừng trị rất nhiều những tên hôn quân vô đạo, tỏ rõ nhân duyên thiên lý thiện ác hữu báo. Từ đó hồng dương Phật Pháp, đưa Phật giáo Đại Thừa truyền rộng ở mảnh đất Thần Châu, cũng đưa văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm gieo trồng vào nơi sâu thẳm trong tâm hồn của hậu thế, đặt nền tảng cho văn hóa tín Phật kính Trời sau này. *Bản thân tác giả là người yêu thích “Tây Du Ký”, tuy đã dùng lý giải của bản thân giải thích một cách đơn giản với nội hàm câu chuyện tu luyện trong danh tác, nhưng rốt cuộc vẫn có tính giới hạn. “Tây Du Ký” ắt còn có nhiều nội hàm sâu rộng hơn nữa… Theo Kim Cung / Phi Long biên dịch Kiếp nạn cuối cùng của thầy trò Đường Tăng tới từ một lời hứa với cụ rùa. Chỉ là hứa hỏi giúp cụ ấy xem cụ còn sống thêm bao nhiêu năm nữa. Một câu hỏi vô hại, cũng như lời hứa tưởng như k có gì là quan trọng, tưởng như có quên cũng được. Chúng ta từ vô lượng kiếp đã bao nhiêu lần hứa, chứ k nói tới kiếp này. Thậm chí kiếp này hứa xong cũng k nhớ mình đã hứa. Hãy thử quan sát các công việc bạn đang làm, các mối quan hệ bạn đang có. Kết quả của mỗi hành vi, lời nói, hành động đang sẽ tạo quả gì trong tương lai. Buôn bán – có tránh khỏi lúc cân thiếu, bán nhầm, thu lãi quá cao, trốn thuế, tránh cơ quan nhà nước… Gặp một người – có đá lông nheo, cười thả thính, hứa nọ hứa chai… Thậm chí việc buôn bán của mình có khiến đối thủ tức tối vì doanh số giảm sút. Việc xuất hiện của mình có khiến ai đó k vui đơn giản “trông cái mặt đã ghét”… Nhiều người vẫn cho rằng tái sinh làm cũng tốt mà, hiện hữu cũng tốt mà, vì cho rằng chỉ cần ta không thấy khổ là được, còn người khác thấy khổ là việc của họ. Mà không hiểu còn hiện hữu là còn khổ chính là việc mình là một nhân góp phần trong quá trình duyên xúc khiến nhân loại, người khác phải khổ. Việc xuất thế gian, độc cư không chỉ là cơ hội độc thoại với chính mình, kiểm điểm chính mình, dành riêng cho mình những phút lắng sâu với tâm tư. Cũng chính là để tránh việc tạo tác, ra những lời hứa ở kiếp này gây nghiệp, tạo ra các duyên xúc không cần thiết. Sau chính là cơ hội để các nghiệp sâu dày có cơ hội ngoi lên bề mặt để trổ. Đừng cho rằng trong một vài thời tọa thiền 1,2 tiếng là sẽ khiến các ẩn nghiệp đó trồi lên. Thậm chí tịnh tĩnh nơi rừng sâu, 1 tuần, 2 tuần còn vẫn thấy bặt bặt nơi nội tâm. Nhưng cứ như vậy, các lớp bụi vô minh dần dần được lau sạch, chúng sẽ lộ rõ. Nhiều vị thực hành nhập thất khi thấy chúng hiển lộ còn dẫn tới sợ hãi, hoang mang, … mà vì vậy cần những người hộ thất, cần những vị thày ở bên để vượt qua các cơn sóng nghiệp từ quá khứ đổ về là như vậy. Do vậy, k phải cứ sống như bây giờ, tới lúc chết cứ niệm khít khao, cứ nghĩ rằng ta k nghĩ gì, ta biết và bước ra khỏi các cảm thọ đang sanh khởi là sẽ chấm dứt được tái sinh trong tiến trình chết. Covid cho cách ly 2 tuần mà sau 1 tuần bạn đã đứng ngồi không yên. Hay một thói quen ở hiện tại, bảo bạn dừng lại, không “luân hồi” chúng nữa mà bạn biết vậy, có ý thức rõ ràng, có đủ lục căn mà còn không thể dừng, huống hồ là khi giai đoạn cận tử ý thức mất, 5 căn đầu đã k thể dùng. Phàm sợ quả, Thánh sợ nhân. Chính là vì các vị đã thấu hiểu Lý duyên khởi. Sự huân tập của ngũ uẩn đi tới tái sinh ở kiếp sau, không phải cứ nói, hay cứ nghĩ dừng mà dừng được. Lực của nghiệp không thể đo đếm bằng các đơn vị vật lý thông thường. Nên thay vì ảo tưởng hãy miên mật thực hành, và đi theo con đường của các vị giác ngộ. Hay thế gian vẫn còn nhiều trò để chơi lắm, chưa chán, vẫn còn thích thú khi thấy nhân loại và người khác khổ vì mình?

kiếp nạn cuối cùng của thầy trò đường tăng